Hoạt động kinh doanh khách sạn chủ yếu là cho thuê buồng ngủ, bên cạnh
đó còn có thể kết hợp nhiều hoạt động khác như dịch vụ giặt là, nhà hàng,
massage, vũ trường, bán hàng lưu niệm…
Các hoạt động trong khách sạn khá phong phú, có những hoạt động có thể
có những sản phẩm dỡ dang cuối kỳ, có những hoạt động không có những sản phẩm dỡ
dang cuối kỳ. Hoạt động cho thuê buồng ngủ có có thể có những sản phẩm dỡ dang
cuối kỳ khi khách nghỉ từ kỳ này sang kỳ khác, các chi phí phục vụ đã phát sinh
nhưng khách hàng chưa thanh toán , khách sạn vẫn chưa hoàn tất việc phục vụ khách
và chưa xác định doanh thu.
Đối với hoạt động kinh doanh khách sạn, chi phí khấu hao TSCĐ thường lớn
vì khách sạn thường đầu tư nhiều vào nội thất khách sạn, trang bị nhiều thiết bị
hiện đại cho phòng ngủ. Tiêu chí để xếp loại khách sạn là mức độ trang bị nội
thất và tiện nghi của khách sạn.
Sản phẩm của dịch vụ kinh doanh khách sạn không thể lưu kho, không có
hình thái vật chất, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm diễn ra đồng thời.
Hoạt động kinh doanh khách sạn mang tính thời vụ cao, phụ thuộc vào điều
kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa lịch sử. Do vậy , kế toán chi
phí, giá thành sản phẩm kinh doanh khách sạn cần chú ý đến đặc điểm này để xác
định mức chi phí cho phù hợp.
Hoạt động kinh doanh khách sạn là sự kết hợp của nhiều hoạt động dịch vụ
mang tính chất khác nhau. Cụ thể:
-
Dịch vụ
cho thuê buồng ngủ: Cho thuê buồng ngủ là lĩnh vực kinh doanh quan trọng của
khách sạn và là căn cứ cơ bản để đánh giá chất lượng cũng như tiêu chuẩn của một
khách sạn.
-
Dịch vụ ăn
uống: dịch vụ ăn uống là hoạt động phụ trợ của khách sạn nhưng cũng giữ vị trí
quan trọng. Trong kinh doanh ăn uống, kinh doanh tiệc cưới, hội nghị, hội thảo
đối với các khách sạn hiện nay đang có xu hướng phát triển tốt.
-
Các dịch vụ
liên quan: các dịch vụ liên quan của khách sạn là các dịch vụ nhằm tăng thêm
doanh thu của khách sạn và đảm bảo nhu cầu đa dạng, phong phú của khách nghỉ tại
khách sạn. Các dịch vụ bổ sung thường bao gồm: massage, karaoke, tennis, thể dục
thẩm mỹ, bể bơi...
4.2.2. Chi phí kinh doanh và giá
thành dịch vụ buồng ngủ trong khách sạn
Theo cách phân loại này, các khoản chi phí có chung tính chất, nội dung
kinh tế được sắp xếp chung vào một yếu tố, không phân biệt chi phí đó phát sinh
ở đâu, dùng vào mục đích gì trong kinh doanh khách sạn. Do vậy, toàn bộ chi phí
kinh doanh khách sạn bao gồm các yếu tố sau:
Ø
Chi phí
nguyên liệu, vật liệu: bao gồm toàn bộ chi phí của các loại chi phí nguyên vật
liệu mà khách sạn đã sử dụng cho hoạt động kinh doanh du lịch như xà phòng, kem
đánh răng, chè, thuốc lá…
Ø
Chi phí
công cụ, dụng cụ: là giá trị phân bổ các loại công cụ, dụng cụ phục vụ cho hoạt
động kinh doanh trong khách sạn như khăn trải bàn, lọ hoa, khăn tắm, chăn màn…
Ø
Chi phí
nhân công: là khoản chi phí về tiền lương mà khách sạn phải trả cho nhân viên
phục vụ hoạt động kinh doanh khách sạn, các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ mà
khách sạn phải trả cho nhân viên phục vụ trong khách sạn.
Ø
Chi phí khấu
hao TSCĐ: bao gồm khoản trích khấu hao TSCĐ sử dụng cho hóa đơn kinh doanh
trong khách sạn
Ø
Chi phí dịch
vụ mua ngoài: bao gồm chi phí tiền điện, tiền nước, điện thoại, các chi phí
khác phải trả.
Ø
Chi phí
khách bằng tiền: bao gồm các khoản chi phí khác phát sinh bằng tiền chưa được
phản ánh ở các khoản mục chi phí trên phục vụ cho hoạt động kinh doanh trong
khách sạn như chi phí tiếp khách, hội nghị…
Cách phân loại chi phí này có tác dụng quan trọng đối với việc quản lý
chi phí của hoạt động kinh doanh buồng ngủ nói riêng và kinh doanh khách sạn
nói chung. Qua đó, giúp các nhà quản lý hiểu rõ về cơ cấu, tỷ trọng của từng yếu
tố chi phí là cơ sở phân tích tình hình đánh giá thực hiện các dự toán chi phí
kinh doanh, giúp các nhà quản trị xây dụng các kế hoạch cung ứng xây dựng vật
tư, tiền vốn và huy động, sử dụng lao động. Các phân loại này là cơ sở cho việc
tập hợp chi phí kinh doanh theo yếu tố và lập báo cáo chi phí kinh doanh theo yếu
tố.
Theo cách phân loại này, chi phí hoạt động kinh doanh khách sạn được
phân loại theo các khoản chi phí kinh doanh có cùng công dụng kinh tế. Theo cạc
phân loại này, chi phí kinh doanh khách sạn được phân chia thành các khoản mục
sau:
-
Chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp: Khoản mục này bao gồm các loại chi phí như xà phòng,
giấy vệ sinh, thuốc tẩy, kem đánh răng, tạp chí… trong hoạt động kinh doanh
khách sạn.
-
Chi phí
nhân công trực tiếp: bao gồm các khoản chi phí tiền lương chính, lương phụ ,
các khoản có tính chất lương khác, các khoản trích theo lương của nhân viên trực
tiếp phục vụ hoạt động kinh doanh khách sạn.
-
Chi phí
kinh doanh dịch vụ chung: bao gồm các khoản mục chi phí khác ngoài 2 khoản mục
chi phí trên phục vụ cho hoạt động kinh doanh khách sạn, bao gồm: chi phí khấu
hao tài sản cố định: bao gồm khoản trích khấu hao TSCĐ sử dụng cho hoạt động
kinh doanh khách sạn; chi phí điện nước, chi phí sửa chữa TSCĐ, chi phí bằng tiền
khác.
Tùy theo đặc điểm tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành, kế toán
có thể sử dụng các phương pháp tính giá thành phù hợp với hoạt động kinh doanh
khách sạn. Trong hoạt động kinh doanh khách sạn, có thể sử dụng một trong các
phương pháp tính giá sau:
a.
Phương
pháp tính giá thành giản đơn
Phương pháp tính giá thành giản đơn (phương pháp trực tiếp) thường được
áp dụng cho từng quy trình của dịch vụ kinh doanh khách sạn, đối tượng tập hợp
chi phí phù hợp với đối tượng tính giá thành thì từ khi đó giá thành sản phẩm dịch
vụ khách sạn được tính như sau:
Tổng giá thành của dịch vụ khách sạn
|
=
|
Chi phí kinh doanh dịch vụ dở dang đầu kỳ
|
+
|
Chi phí kinh doanh dịch vụ phát sinh trong kỳ
|
-
|
Chi phí kinh doanh dịch vụ dở dang cuối kỳ
|
|||
Giá thành đơn vị dịch vụ khách sạn
|
=
|
Tổng giá thanh toán của dịch vụ khách sạn
|
|||||||
Tổng số
lượng dịch vụ đã hoàn thành trong kỳ
|
|||||||||
b.
Phương
pháp hệ số
Phương pháp tính giá thành theo hệ số còn gọi là phương pháp tính giá
thành quy về sản phẩm chuẩn. Ví dụ, đối với việc tính giá thành dịch vụ buồng
ngủ trong kinh doanh khách sạn, do nhu cầu khách du lịch ở nhiều mức độ khác
nhau, nhu cầu khách du lịch trong nước, nhu cầu khách du lịch nước ngoài… Mỗi
loại khách lại có sở thích, nhu cầu không giống nhau nên hoạt động kinh doanh
buồng ngủ thường phục vụ khách nghỉ với rất nhiều loại phòng, mỗi phòng lại
chia nhiều hạng khác nhau: phòng VIP, phòng loại 1, phòng loại 2, phòng đôi,
phòng đơn… Định mức chi phí phục vụ, đầu tư thiết bị cho mỗi loại phòng là khác
nhau.
Khi tính giá thành dịch vụ cho thuê buồng ngủ có
thể tính giá thành đơn vị cho một giường hoặc tính giá thành cho một lượt phòng
ngủ căn cứ vào từng loại phòng.
Để tính giá thành theo hệ số, đòi hỏi phải tính được hệ số tính giá
thành của từng loại phòng và được áp dụng thống nhất. Việc xác định hệ số tính
giá thành cho từng loại phòng căn cứ vào các tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật, điều
kiện trang thiết bị, vị trí phòng, mức độ phục vụ… Trong các loại phòng phục vụ,
khách sạn sẽ chọn lấy một loại phòng làm tiêu chuẩn có hệ số 1.
Sau khi xác định hệ số tính giá thành của các loại phòng, kế toán căn cứ
vào số lượt phòng thực tế cho thuê của từng loại phòng trong kỳ và hệ số tính
giá thành của từng loại phòng để tính tổng số phòng quy đổi về phòng loại 1
theo công thức:
Tổng số
phòng quy đổi thành phòng tiêu chuẩn
|
=
|
Tổng số
ngày đêm nghỉ thực tế tại phòng loại i
|
x
|
Hệ số
quy đổi phòng loại i
|
Giá thành
đơn vị phòng ngủ tiêu chuẩn được xác định:
Giá thành đơn vị phòng ngủ tiêu chuẩn
|
=
|
Tổng giá thanh toán của dịch vụ buồng ngủ
|
Tổng số phòng quy đổi thành phòng tiêu chuẩn
|
Giá
thành đơn vị phòng ngủ loại i
|
=
|
Giá
thành đơn vị phòng ngủ tiêu chuẩn
|
x
|
Hệ số
quy đổi phòng loại i
|
Tổng
giá thành của phòng ngủ loại i
|
=
|
Tổng số
ngày đêm nghỉ thực tế tại phòng loại i
|
x
|
Giá
thành đơn vị phòng ngủ loại i
|
4.2.3. Phương pháp kế toán hoạt động kinh doanh dịch vụ khách sạn
Vì kinh
doanh khách sạn là tổng hợp của nhiều loại dịch vụ. Do vậy, đối tượng tính giá
thành là từng loại dịch vụ (dịch vụ thuê buồng ngủ, dịch vụ giặt là, dịch vụ
massage, dịch vụ karaoke…) và tập hợp chi phí cho từng đối tượng dịch vụ đó. Với
những khoản chi phí gián tiếp, doanh nghiệp sẽ xây dựng tiêu chuẩn để phân bổ.
Trình tự kế
toán chi phí, doanh thu hoạt động kinh doanh dịch vụ khách sạn như sau:
1. Xuất kho vật liệu, hoặc vật liệu mua về được đưa
vào sử dụng ngay hoặc vật liệu do doanh nghiệp tự sản xuất ra được sử dụng cho
dịch vụ kinh doanh khách sạn:
Nợ TK 621: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
(chi tiết từng loại dịch vụ)
Có TK 152: Nguyên liệu, vật liệu
(doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo KKTX)
Có TK 611: Mua hàng (doanh nghiệp hạch
toán hàng tồn kho theo KKĐK)
Có TK 111, 112, 141
Có TK 154: Chi phí sản xuất kinh doanh
dở dang
2. Vật liệu đã xuất sử dụng trong dịch vụ khách sạn còn thừa nhập lại kho:
Nợ TK 152: nguyên liệu, vật liệu
Nợ TK 611: Mua hàng (doanh nghiệp hạch toán
hàng tồn kho theo KKĐK)
Có TK 621: Chi phí nguyên vật liệu trực
tiếp
3. Tiền
lương phải trả, tiền ăn giữa ca, phụ cấp cho nhân viên trực tiếp phục vụ tại
khách sạn:
Nợ TK 622: Chi phí nhân công trực tiếp (Chi
tiết từng loại dịch vụ)
Có TK 334: Phải trả công nhân viên
4. Trích BHXH, BHYT, KPCĐ…của nhân viên trực tiếp phục vụ tại khách sạn:
Nợ TK 622: Chi phí nhân công trực tiếp (Chi
tiết từng loại dịch vụ)
Có TK 3382, 3383, 3384, 3389
5. Trích trước tiền lương nghỉ phép của nhân viên trực tiếp phục vụ tại
khách sạn:
Nợ TK 622: Chi phí nhân công trực tiếp (Chi
tiết từng loại dịch vụ)
Có TK 335: Chi phí phải trả
6. Tiền
lương phải trả, tiền ăn giữa ca, phụ cấp cho nhân viên quản lý từng dịch vụ tại
khách sạn:
Nợ TK 627: Chi phí sản xuất chung (chi tiết
từng loại dịch vụ)
Có TK 334: Phải trả công nhân viên
7. Trích BHXH, BHYT, KPCĐ…của nhân viên quản lý từng dịch vụ tại khách sạn:
Nợ TK 627: Chi phí sản xuất chung (chi tiết
từng loại dịch vụ)
Có TK 3382, 3383, 3384, 3389
8. Khi xuất
dùng hoặc phân bổ giá trị công cụ, dụng cụ dùng cho từng bộ phận dịch vụ:
Nợ TK 627: Chi phí sản xuất chung (chi tiết
từng loại dịch vụ)
Có TK 153: Công cụ, dụng cụ
Có TK 142, 242: Giá trị phân bổ kỳ này
9. Trích
khấu hao TSCĐ dùng cho từng bộ phận dịch vụ:
Nợ TK 627: Chi phí sản xuất chung (chi tiết
từng loại dịch vụ)
Có TK 214: Khấu hao TSCĐ
10. Khi
phát sinh chi phí dịch vụ mua ngoài hay chi phí bằng tiền khác phục vụ từng bộ
phận dịch vụ:
Nợ TK 627: Chi phí sản xuất chung (chi tiết
từng loại dịch vụ)
Nợ TK 133: Thuế GTGT được khấu trừ
Có TK 111, 112, 141…
11. Cuối kỳ,
kết chuyển chi phí để tính giá thành từng loại dịch vụ:
Nợ TK 154:
Chi phí sản xuất KD dở dang (DN hạch toán HTK theo kê khai thường xuyên)
Nợ TK 631: Giá thành sản xuất (DN hạch toán
HTK theo kiểm kê định kỳ)
Có TK 621 (Chi tiết từng loại dịch vụ)
Có TK 622 (Chi tiết từng loại dịch vụ)
Có TK 627 (Chi tiết từng loại dịch vụ)
12. Khi
khách hàng sử dụng dịch vụ của khách sạn, khách sạn sẽ lập hóa đơn GTGT và ghi
nhận doanh thu cung cấp dịch vụ:
Nợ TK 131: Phải thu kh
Có
TK 5113: Doanh thu dịch vụ
Có TK 33311: Thuế GTGT đầu ra
- Khi cung
cấp dịch vụ là đối tượng chịu thuế TTĐB (dịch vụ massage, karaoke, vụ trường…)
thi doanh thu bán hàng là tổng giá thanh toán bao gồm cả thuế TTĐB:
Nợ TK 111, 112, 131 : Giá bao gồm thuế GTGT
Có TK 5113: Doanh thu dịch vụ
- Trường hợp
khách hàng đặt tiền trước mua dịch vụ cho nhiều kỳ:
Nợ TK 111, 112
Có TK 3387: Doanh thu chưa thực hiện
Có TK 33311: Thuế GTGT đầu ra
- Định kỳ
ghi nhận doanh thu tương ứng
Nợ TK 3387: Doanh thu chưa thực hiện
Có TK 5113: Doanh thu dịch vụ
- Đồng thời,
kế toán xác định giá vốn của từng loại dịch vụ đã cung cấp:
Nợ TK 632: Giá vốn hàng bán
Có TK 154: Chi phí sản xuất kinh doanh
dở dang (DN hạch toán HTK theo kê khai thường xuyên)
Có TK 631: Giá thành sản
xuất (DN hạch toán HTK theo kiểm kê định kỳ)
Đối với những
vật liệu trong chế biến thức ăn có thời gian lưu kho ngắn như: cá, thịt tươi,
rau, quả… thì phương pháp tính trị giá vốn vật liệu xuất dùng phù hợp là phương
pháp đích danh. Thông thường, đối với những thực phẩm tươi sống thì các nhà
hàng, khách sạn sẽ mua và đưa trực tiếp vào chế biến thức ăn mà không nhập kho.
Đối với những
vật liệu trong chế biến thức ăn có thời gian lưu kho dài như dầu ăn, mắm, muối,
gia vị… thì có thể áp dụng một trong các phương pháp tính trị giá vốn hàng xuất
kho theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02.
Để hạch
toán đúng và đủ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán thường căn cứ và thực
đơn chế biến hàng ngày do giám đốc duyệt để xuất kho nguyên vật liệu và cấp tiền
đi chợ cho bộ phận tiếp liệu.
Khi bộ phận
tiếp liệu mua nguyên vật liệu về thì những vật liệu nào nhập kho sẽ lập phiếu
nhập kho và làm thủ tục thanh toán với kế toán. Đối với vật liệu tươi sống
không nhập kho mà đưa ngay vào chế biến thì bộ phận tiếp liệu lập bảng kê mua vật
liệu về; lập làm 3 liên: chuyển lên phòng kế toán 1 liên, chuyển cho bộ phận bếp
trưởng 1 liên.
Để theo
dõi chính xác nguyên liệu đưa vào sản xuất món ăn cần có một nhân viên được
giao nhiệm vụ lập sổ kho chế biến ghi nhận toàn bộ giá trị nguyên vật liệu đã
giao cho bộ phận chế biến.
Để kiểm
soát số lượng và giá trị nguyên vật liệu sử dụng cho việc chế biến món ăn trong
ngày, kế toán phải yêu cầu bếp trưởng lập phiếu sản xuất chế biến hàng ngày cho
từng món ăn. Phiếu theo dõi vật liệu chế biến có thể được mở cho từng ngày theo
dõi vật liệu sử dụng chế biến từng món ăn. Phiếu theo dõi vật liệu chế biến có
thể mở như sau:
PHIẾU THEO DÕI VẬT LIỆU CHẾ BIẾN
|
||||||
Ngày:……………
|
||||||
STT
|
Tên món ăn
|
Đơn vị tính
|
Số lượng
|
Đơn giá (Đg)
|
Thành tiền (Đg)
|
|
1
|
Gà rang muối
|
Con
|
40
|
…….
|
||
Gà
|
Con
|
40
|
70.000
|
2.800.000
|
||
Gia vị
|
…….
|
…………
|
||||
2
|
Thịt bò xào
|
|||||
Thịt bò
|
Kg
|
10
|
80.000
|
800.000
|
||
Rau cần
|
Kg
|
5
|
||||
Tỏi
|
Kg
|
0,5
|
||||
……
|
||||||
Đối với những
gia vị như mì chính, dầu ăn, muối, hạt nêm… là những chi phí gián tiếp thì khi
xuất kho vật liệu này sẽ sử dụng để chế biến nhiều món ăn thì nhà hàng có thể
chọn tiêu thức để cuối kỳ phân bổ cho từng món ăn cho phù hợp.
Phương
pháp kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp trong chế biến món ăn:
1.
Khi xuất kho nguyên vật liệu
trực tiếp để chế biến món ăn, căn cứ vào phiếu xuất kho, kế toán ghi:
Nợ TK 621: Chi phí NVL trực tiếp (chi phí từng
món ăn)
Có TK 152: nguyên liệu, vật liệu (DN hạch
toán hàng tồn kho theo kê khai thường xuyên)
Có TK 611: Mua hàng (DN
hạch toán hàng tồn kho theo kiểm kê định kỳ)
2.
Nguyên vật liệu mua ngoài
đưa và sử dụng thẳng ở bộ phận bếp không qua kho, căn cứ vào bảng kê mua thực
phẩm và phiếu theo dõi vật liệu chế biến:
Nợ TK 621: Chi phí NVL trực tiếp (chi phí từng
món ăn)
Nợ TK 133 (nếu có)
Có TK 111, 112, 331…
- Vật liệu
thừa nhập kho trả lại:
Nợ TK 152, 611
Có TK 621: Chi phí NVL trực tiếp
- Vật liệu
còn thừa để lại ở bộ phận chế biến tiếp tục sử dụng cho kỳ sau, kế toán ghi
“âm” bút toán:
Nợ TK 621: Chi phí NVL trực tiếp (chi phí từng
món ăn)
Có TK 152: nguyên liệu, vật liệu (DN hạch
toán hàng tồn kho theo kê khai thường xuyên)
Có TK 611: Mua hàng (DN hạch
toán hàng tồn kho theo kiểm kê định kỳ)
Sang kỳ
sau, kế toán kết chuyển bút toán trên sang ghi “dương” bình thường.
Cuối kỳ kết chuyển nguyên vật liệu trực tiếp để tính giá thành sản phẩm
chế biến.
Nợ TK 154: Chi phí SXKDD (DN hạch toán hàng
tồn kho theo kê khai thường xuyên)
Nợ TK 631: Giá thành sản xuất (DN hạch toán
hàng tồn kho theo kiểm kê định kỳ)
Có TK 621: (Chi tiết từng món ăn)
Chi phí
nhân công trực tiếp trong kinh doanh nhà hàng bao gồm: tiền lương, tiền công,
các khoản phụ cấp theo lương, các khoản trích theo lương của bộ phận bếp, tổ chế
biến, những người trực tiếp chế biến món ăn.
1.
Khi tính lương, tiền ăn giữa
ca, các khoản phụ cấp của bộ phận bếp trong nhà hàng:
Nợ TK 622: Chi phí nhân công trực tiếp
Có TK 334: Phải trả công nhân viên
2.
Trích BHXH, BHYT, KPCĐ của
nhân viên bộ phận bếp:
Nợ TK 622: Chi phí nhân công trực tiếp
Có TK
3382, 3383, 3384
3.
Trích trước
lương nghỉ phép của nhân viên trực tiếp chế biến thức ăn:
Nợ TK 622: Chi phí nhân công
trực tiếp
Có TK 335: Chi phí phải
trả
4.
Cuối kỳ, kết
chuyển chi phí nhân công trực tiếp để tính giá thành sản phẩm chế biến:
Nợ TK 154: Chi phí SXKDD (DN hạch
toán hàng tồn kho theo kê khai thường xuyên)
Nợ TK 631: Giá thành sản xuất
(DN hạch toán hàng tồn kho theo kiểm kê định kỳ)
Có TK 622: Chi phí nhân
công trực tiếp
Trong quá
trình chế biến thức ăn còn phát sinh rất nhiều các chi phí khác đó là các khoản
chi phí gián tiếp phục vụ cho quá trình chế biến thức ăn như:
-
Chi phí vật
liệu gián tiếp cho việc chế biến như: Xà phòng, nước rửa bát…
-
Chi phí
nhân công gián tiếp: Chi phí tiền lương, tiền công các khoản trích theo lương của
nhân viên quản lý bộ phận bếp, nhân viên vận chuyển, nhân viên tiếp liệu…
-
Chi phí
công cụ dụng cụ: xoong nồi, dao, bát đĩa, đũa, bếp ga…
-
Chi phí khấu
hao TSCĐ dùng cho sản xuất chế biến món ăn
-
Chi phí dịch
vụ mua ngoài: Chi phí tiền điện, nước, ga..
-
Chi phí
khác bằng tiền
Trình tự kế
toán chi phí sản xuất chung trong nhà hàng
1.
Khi tính
tiền lương, tiền ăn giữa ca, các khoản phụ cấp cho nhân viên gián tiếp phục vụ
của bộ phận bếp trong nhà hàng:
Nợ TK 627: Chi phí sản xuất chung
Có TK 334: Phải trả công nhân viên
-
Trích
BHXH, BHYT, KPCĐ,BHTN cho nhân viên gián tiếp phục vụ của bộ phận bếp trong nhà
hàng:
Nợ TK 627: Chi phí sản xuất chung
Có TK 3382, 3383, 3384, 3389
2.
Khi xuất
dùng hoặc phân bổ giá trị công cụ dụng cụ dùng cho bộ phận bếp:
Nợ TK 627: Chi phí sản xuất chung
Có TK 153: Công cụ, dụng cụ
Có TK 142, 242
3.
Trích khấu
hao TSCD dùng ở bộ phận bếp:
Nợ TK 627: Chi phí sản xuất chung
Có TK 214: Hao mòn TSCĐ
4.
Khi phát
sinh chi phí dịch vụ mua ngoài hay chi phí bằng tiền khác phục vụ cho bộ phận bếp:
Nợ TK 627: Chi phí sản xuất chung
Nợ TK 133: Thuế GTGT được khấu trừ
Có TK 111, 112, 141…
5. Cuối kỳ kết chuyển chi phí
sản xuất chung để tính giá thành sản phẩm chế biến
Nợ TK 154: Chi phí SXKDD (DN hạch
toán hàng tồn kho theo kê khai thường xuyên)
Nợ TK 631: Giá thành sản xuất
(DN hạch toán hàng tồn kho theo kiểm kê định kỳ)
Có TK 627: Chi phí sản xuất
chung
Các phương thức bán hàng trong kinh doanh nhà hàng:
-
Giao hàng
và thu tiền trực tiếp: Theo phương thức này, nhân viên bán hàng trực tiếp giao
hàng và thu tiền của khách. Nhân viên bán hàng và nộp số tiền thu được theo báo
cáo bán hàng về phòng kế toán và thủ quỹ.
-
Phương thức
bán suất ăn theo vé: Phương thức bán hàng này được áp dụng ở nhà hàng bán đồ ăn
theo món ăn, suất ăn, buffer. Nhân viên bán hàng phát vé ăn cho khách và thu tiền
trực tiếp. Nhân viên bán hàng căn cứ vào từng vé ăn để lập Báo cáo bán hàng
hàng ngày và nộp số tiền theo báo cáo về phòng kế toán.
-
Phương thức
bán hàng theo đơn đặt hàng: Khi nhà hàng có khách đặt hội nghị, đám cưới hoặc
khách đặt trước các món ăn theo ngày giờ cụ thể, nhà hàng sẽ lập một hợp đồng
hoặc cam kết giữa nhà hàng và khách đặt. Thông thường khách thường phải đặt cọc
trước một khoản tiền nhất định. Kế toán lập phiếu thu nhưng chưa lập hóa đơn
bán hàng. Khi thực hiện xong hợp đồng, đã hoàn thành việc phục vụ khách, nhà
hàng mới được lập hóa đơn bán hàng và thanh toán phần tiền còn lại.
Kế toán căn cứ vào báo cáo bán hàng, hóa đơn bán hàng, kế toán ghi nhận
doanh thu bán hàng:
Nợ TK 111, 112: Số tiền hàng
thu được
Có TK 511 (chi tiết theo
yêu cầu quản trị)
Có TK 33311 : Thuế GTGT
được khấu trừ
Đồng thời kế toán ghi nhận giá vốn của sản phẩm đã tiêu thụ:
Nợ TK 632: Giá vốn hàng bán
Có TK 154: Chi phí SXKDD
(DN hạch toán hàng tồn kho theo kê khai thường xuyên)
Có TK 631: Giá thành sản
xuất (DN hạch toán hàng tồn kho theo kiểm kê định kỳ)
Kế toán xác định kết quả được thực hiện tương tự như các loại hình doanh
nghiệp khác…
Biên soạn:
Nguyễn Thị Phương Nga, ĐH Dân lập Phú Xuân
Phản biện:
Phan Đình Ngân, ĐH Kinh tế Huế
Các Blog:
Phanhaiky.blogspot.com; Phankyhai.blogspot.com; Phandinhngan.blogspot.com;
MỤC LỤC Trang
Biên soạn: Nguyễn Thị Phương Nga, ĐH Dân lập Phú
Xuân
Phản biện: Phan Đình Ngân, ĐH Kinh tế Huế
Các Blog: Phanhaiky.blogspot.com;
Phankyhai.blogspot.com; Phandinhngan.blogspot.com;