CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG TRONG DOANH NGHIỆP
KINH DOANH THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ
KINH DOANH THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ
1.1. ĐẶC ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG
VÀ CHỨC NĂNG CỦA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ
- Hoạt động kinh doanh thương mại là hoạt động lưu
thông phân phối hàng hóa trên thị trường buôn bán của từng quốc gia riêng biệt
hoặc giữa các quốc gia với nhau.
- Kinh doanh dịch vụ là ngành kinh doanh sản phẩm vô
hình, nhằm đáp ứng nhu cầu vận tải, nghỉ ngơi, đi lại, nghe, nhìn, thanh toán…
Chất lượng dịch vụ khó đánh giá vì chịu nhiều yếu tố tác động từ người bán, người
mua và thời điểm chuyển giao dịch vụ đó. Rất nhiều loại hình dịch vụ phụ thuộc
vào thời vụ.
Trong nền kinh tế, quá trình lưu chuyển hàng hóa và
dịch vụ phục vụ được giao cho nhiều ngành đảm nhận như: lương thực, thực phẩm,
dược phẩm, vật tư, du lịch, khách sạn, bưu điện, vận tải…
Ø
Hàng hóa trong kinh doanh thương mại được phân theo từng ngành như:
- Hàng nông, lâm, thủy, hải sản
- Hàng công nghệ phẩm tiêu dùng
- Hàng công nghiệp vật tư, thiết bị
- Hàng thực phẩm, lương thực chế biến
Trong khuôn khổ của
giáo trình, tác giả xin giới thiệu 2 lĩnh vực: mua – bán hàng hóa trong nước và
xuất – nhập khẩu hàng hóa .
Ø
Dịch vụ rất đa dạng và phong phú, tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau:
dịch vụ thanh toán mua - bán, khách sạn, du lịch, vận tải… Trong khuôn khổ của
giáo trình, tác giả xin giới thiệu 2 lĩnh vực: kinh doanh nhà hàng khách sạn và
kinh doanh du lịch.
Lưu chuyển hàng hóa là quá trình vận động của hàng
hóa trong các doanh nghiệp thương mại, gồm 3 khâu: mua vào, dự trữ và bán ra.
Trong điều kiện kinh doanh hiện nay, các doanh nghiệp
thương mại cần tính toán dự trữ hàng hóa hợp lý, tránh để hàng tồn kho quá lớn,
kéo dài thời gian một vòng luân chuyển, nhằm sử dụng vốn lưu động hợp lý, tiết
kiệm chi phí, tăng hiệu quả kinh tế.
Quá trình sản xuất và
tiêu thụ các sản phẩm dịch vụ thường diễn ra đồng thời ngay cùng một địa điểm
nên cung và cầu dịch vụ không thể tách rời nhau mà phải được tiến hành đồng thời.
Trong quá trình mua hàng, các doanh nghiệp thương mại
cần tính toán xác định đúng đắn giá thanh toán trong khâu mua để xác định đúng
giá vốn của hàng hóa tiêu thụ làm cơ sở xác định kết quả kinh doanh.
Về nguyên tắc, hàng hóa trong doanh nghiệp thương mại
được xác định theo giá mua thực tế ở từng khâu kinh doanh:
Ø
Trong khâu mua: Giá thực tế là số tiền thực tế mà doanh nghiệp phải chi
ra để có được quyền sở hữu về số hàng hóa đó.
Giá mua
thực tế
|
=
|
Giá thanh toán với người bán
|
+
|
Các khoản thuế không được
hoàn lại
|
+ Chi phí thu mua
|
Các khoản
giảm
- giá, chiết
khấu thương mại
|
> Trong khâu dự trữ
(thời điểm nhập kho): Trị giá vốn hàng hóa nhập kho bao gồm:
Giá vốn hàng hóa nhập kho
|
=
|
Giá thanh toán với người bán
|
+
|
Chi phí thu mua
|
+
|
Các khoản thuế không được hoàn lại
|
-
|
Các khoản giảm giá, chiết khấu thương mại
|
Ø
Trong
khâu bán: Trị giá vốn hàng hóa tiêu thụ được xác định đúng bằng giá vốn hàng
hóa nhập kho để đảm bảo nguyên tắc giá gốc. Do sự biến động giá trên thị trường,
doanh nghiệp thương mại phải mua hàng từ nhiều nhà cung cấp khác nhau. Vì vậy,
giá xuất bán của hàng hóa có thể áp dụng một trong các phương pháp sau:
- Phương pháp bình
quân gia quyền: theo phương pháp này, đòi hỏi tính đơn giá bình quân gia quyền
tại thời điểm xuất kho và thời điểm tồn kho cuối kỳ.
- Giá thực tế đích
danh: theo phương pháp này, khi xuất lô hàng nào thì lấy giá thực tế của lô
hàng đó.
-
Giá nhập trước – xuất trước: theo đó, số hàng hóa nào nhập trước thì lấy giá thực
tế của lần đó là giá của hàng hóa xuất kho. Do đó, hàng hóa tồn kho cuối kỳ
tính theo đơn giá của những lần nhập kho sau cùng.
- Giá nhập sau – xuất
trước: theo phương pháp này, số hàng hóa nào nhập sau thì được chọn làm đơn giá
xuất kho. Do đó, trị giá hàng hóa tồn kho cuối kỳ tính theo đơn giá của những lần
nhập đầu tiên.
Việc áp dụng phương
pháp nào để tính trị giá hàng hóa xuất kho là do doanh nghiệp tự quyết định.
Song cần đảm bảo sự nhất quán trong niên độ kế toán và phải thuyết minh trong
báo cáo tài chính.
Trường hợp doanh
nghiệp sử dụng giá hạch toán trong kế toán chi tiết nhập xuất hàng hóa thì cuối
kỳ cần phải tính hệ số chênh lệch giữa giá thực tế và giá hạch toán của hàng hóa
luận chuyển trong kỳ để tính được trị giá thực tế của hàng hóa xuất kho theo
các công thức sau:
Hệ số
giá thực tế và giá hạch toán của hàng hóa
|
=
|
Trị giá
thực tế của hàng hóa tồn kho đầu kỳ
|
+
|
Trị giá
thực tế của hàng hóa nhập trong kỳ
|
Trị giá
hạch toán của hàng hóa tồn kho đầu kỳ
|
+
|
Trị giá
hạch toán của hàng hóa nhập trong kỳ
|
Hệ số
chênh lệch giữa giá thực tế và giá hạch toán của hàng hóa
|
=(
|
Trị giá
thực tế của hàng hóa tồn kho đầu kỳ
|
+
|
|
||
Trị giá
hạch toán của hàng hóa tồn kho đầu kỳ
|
+
|
Trị giá
hạch toán của hàng hóa nhập trong kỳ
|
Sau khi tính được hệ số chênh lệch giá giữa
giá thực tế và giá hạch toán của hàng hóa luân chuyển trong kỳ, kế toán diều
chỉnh giá trị xuất kho theo giá hạch toán theo giá thực tế của hàng hóa xuất
kho theo công thức sau:
Mức
điều chỉnh giá giá hạch toán theo giá thực tế của hàng hóa xuất kho trong kỳ
|
=
|
Trị giá hạch toán của hàng hóa xuất kho trong
kỳ
|
x
|
Hệ số
chênh lệch giữa giá thực tế và giá hạch toán của hàng hóa luân chuyển trong
kỳ
|
Sản phẩm dịch vụ có
sự khác nhau về cơ cấu chi phí so với các sản phẩm vật chất khác: tỷ trọng chi
phí nguyên vật liệu thấp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung
tương đối cao. Trị giá vốn của dịch vụ cung cấp cũng chính là giá thành của sản
phẩm dịch vụ.
1.2. VAI TRÒ, NHIỆM VỤ CỦA KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ
Kế toán có lịch sử phát triển lâu đời, xuất hiện
cùng với sản xuất hàng hóa, và dần phát triển thành một nghề, một lĩnh vực
chuyên môn. Khái niệm kế toán có thể được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau: từ
góc độ của một nhà nghiên cứu lý luận, nhà quản lý vĩ mô, nhà quản trị doanh
nghiệp, hội nghề nghiệp kế toán, người sử dụng thông tin kế toán liên quan… Cho
nên, kế toán có thể có các khái niệm không giống nhau:
- Theo
Walter. B. Meisg, Robert F.Meisg trong cuốn “Cơ sở của các quyết định kinh
doanh” thì “ Kế toán là nghệ thuật đo lường, phản ánh, truyền đạt và giải thích
hoạt động tài chính kế toán”
- Theo Ronald J. Thacker trong cuốn sách “
Nguyên lý kế toán Mỹ” thì “ Kế toán là một phương pháp cung cấp thông tin cần
thiết cho quản lý có hiệu quả và để đánh giá hoạt động của mọi tổ chức”
- Theo luật kế toán Việt Nam: “Kế toán là công
việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài
chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động”.
Cho dù nhận thức, quan điểm
về kế toán trên phương diện, phạm vi, góc độ khác nhau đi nữa thì nhìn chung đều
thừa nhận kế toán vừa là một khoa học quản lý, vừa là một nghệ thuật tổ chức
thông tin, là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ quản lý
kinh tế tài chính. Kế toán có những phương pháp riêng, độc lập và có những ngôn
ngữ nghề nghiệp mang nhiều màu sắc riêng biệt, dựa trên những nguyên lý làm nền
tảng lý luận, là đạo lý quan trọng để xây dựng chế độ kế toán của từng quốc
gia, cũng như việc hành nghề kế toán ở các đơn vị kế toán.
Kế toán ở đơn vị kế toán bao gồm:
- Kế toán tài chính: là việc thu thập, xử lý,
phân tích và cung cấp thông tin kế toán, tài chính bằng các báo cáo tài chính
cho mọi đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin của đơn vị kế toán.
- Kế toán quản trị: là việc thu thập, xử lý,
phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết
định kinh tế tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán.
Khi thực hiện công việc kế toán tài chính và kế
toán quản trị, đơn vị kế toán phải thực hiện kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết.
Vai trò
của kế toán trong công tác quản lý được thể hiện ở các mặt sau:
> Thứ nhất: Kế toán cung cấp thông tin kinh tế tài chính của đơn vị kế
toán cho các đối tượng sử dụng thông tin.
- Thông tin kinh tế, tài chính kế toán cung cấp
thông qua việc phản ánh các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh trong doanh
nghiệp bằng hệ thống phương pháp của kế toán để thu nhận, xử lý và phân tích
thông tin.
- Thông tin kế toán cung cấp trên các báo cáo
tài chính có giá trị pháp lý về tình hình tài chính cũng như tình hình kinh
doanh của đơn vị kế toán và sử dụng để công bố công khai theo quy định của pháp
luật.
- Thông tin kế toán là cơ sở để xây dựng và xét duyệt kế hoạch dự toán,
quyết toán.
Ø
Các đối tượng sử dụng thông
tin của kế toán là:
+ Cơ quan
chức năng Nhà nước (cơ quan thuế, cơ quan tài chính, cơ quan thống kê…)
+ Các nhà đầu tư, các nhà cung cấp, các khách
hàng
+ Công
nhân viên
+ Hội đồng
quản trị, các nhà quản lý doanh nghiệp…
Ø
Những thông tin kế toán
cung cấp là:
- Thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp: các yếu tố có liên
quan trực tiếp đến việc xác định và đánh giá tình hình tài chính là tài sản, nợ
phải trả và vốn chủ sở hữu.
- Thông tin về tình hình kinh doanh: Lợi nhuận là thước đo kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp. Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định lợi
nhuận là doanh thu, thu nhâp khác và chi phí.
>Thứ hai, thông qua quá
trình thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kế toán là cơ sở kiểm
tra, giám sát tình hình tài chính cũng như tình hình hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, kiểm tra việc chấp hành các chính sách, chế độ về quản
lý kinh tế tài chính. Tài liệu, số liệu kế toán là cơ sở xem xét, xử lý vi phạm
pháp luật.
Để thực hiện tốt vai trò quan trọng của kế
toán trong công tác quản lý vi mô và vĩ mô, thông tin kế toán cung cấp đảm bảo
đáng tin cậy, tránh rủi ro trong việc sử dụng thông tin kế toán cho các đối tượng
sử dụng thông tin, đòi hỏi công tác kế toán phải đáp ứng được các yêu cầu cơ bản
sau:
Ø
Trung thực: Các thông tin và số liệu kế toán
phải được ghi chép và báo cáo trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và
đúng với thực tế, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
Ø
Khách quan: Các thông tin và số liệu kế toán
phải được ghi chép và báo cáo đúng với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp
méo. Yêu cầu này đòi hỏi các số liệu, thông tin kế toán cung cấp phải dựa trên
những sự kiện có tính khách quan có thể kiểm tra được.
Ø
Đầy đủ: mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính
phát sinh liên quan đến kỳ kế toán phải được ghi chép và báo cáo đầy đủ, không
bị bỏ sót.
Ø
Kịp thời: Các thông tin và số liệu kế toán
phải được ghi chép và báo cáo kịp thời, đúng hoặc trước thời hạn quy định.
Ø
Dễ hiểu: Các thông tin và số liệu kế toán
trình bày trong báo cáo tài chính phải rõ ràng, dễ hiểu đối với người sử dụng
thông tin. Người sử dụng ở đây được hiểu là người có hiểu biết về mặt kinh
doanh, về kinh tế, tài chính, kế toán ở mức trung bình. Thông tin về những vấn
đề phức tạp trong báo cáo tài chính phải được giải trình trong phần thuyết
minh.
Ø
Liên tục: Các thông tin và số liệu kế toán
phải được phản ánh liên tục từ khi phát sinh đến khi kết thúc hoạt động kinh tế,
tài chính; liên tục từ khi thành lập đơn vị kế toán đến khi chấm dứt hoạt động;
số liệu kế toán phản ánh kỳ này phải kế tiếp số liệu phản ánh kỳ trước.
Ø
Có thể so sánh: Các thông tin và số liệu kế toán
giữa các kỳ kế toán trong một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp chỉ có thể
so sánh được khi tính toán và trình bày nhất quán. Trường hợp không nhất quán
thì phải giải thích trong phần thuyết minh để người sử dụng báo cáo tài chính
có thể so sánh thông tin giữa các kỳ kế toán, giữa các doanh nghiệp hoặc giữa
các thông tin thực hiện với thông tin dự toán, kế hoạch.
Giữa các yêu cầu đối với kế toán có mối liên hệ
chặt chẽ và mật thiết với nhau. Phải thực hiện đồng thời các yêu cầu đối với kế
toán và thông tin kế toán mới đảm bảo đáng tin cậy, trung thực và hợp lý.
Để đáp ứng các yêu cầu thực hiện tốt vai trò của
kế toán, công tác kế toán doanh nghiệp có các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo đối tượng và nội dung
công việc kế toán, theo chuẩn mực và chế độ kế toán.
- Kiểm tra, giám sát các khoản thu, chi tài chính, các nghĩa vụ thu, nộp,
thanh toán nợ; kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài sản và nguồn hình thành tài sản,
phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về kế toán.
- Phân tích thông tin, số liệu kế toán, tham mưu đề xuất các giải pháp phục
vụ yêu cầu quản trị và ra quyết định kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán.
- Cung cấp thông tin, số liệu kế toán theo quy định của pháp luật.
1.3. NỘI DUNG CỦA CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP
Theo luật Kế toán Việt
Nam, đối tượng kế toán thuộc hoạt động kinh doanh gồm:
- Tài sản cố định, tài sản lưu động;
- Nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu;
- Các khoản doanh thu, chi phí, thu nhập và chi phí khác;
- Thuế và các khoản thu nộp Ngân sách Nhà nước;
- Kết quả và phân chia kết quả hoạt động kinh doanh;
- Các tài sản khác có liên quan đến đơn vị kế toán.
Cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, kế
toán doanh nghiệp thương mại dịch vụ phải thu nhận, xử lý, cung cấp thông tin về
tài sản và sự vận động của tài sản trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp phát sinh các nghiệp vụ kinh tế tài
chính. Nghiệp vụ kinh tế tài chính là những hoạt động kinh tế tài chính phát
sinh làm tăng, giảm tài sản, nguồn vốn hình thành nên tài sản của doanh nghiệp.
Cho dù các hoạt động kinh tế tài chính phát sinh trong mỗi doanh nghiệp thuộc
các loại hình kinh doanh thương mại hay dịch vụ khác nhau rất đa dạng, phong
phú đòi hỏi kế toán phản ánh và kiểm tra giám sát. Song, có thể khái quát lại
toàn bộ công tác kế toán của doanh nghiệp gồm những nội dung cơ bản sau:
- Kế toán các khoản vốn bằng tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn,
các khoản phải thu, các khoản ứng và trả trước.
- Kế toán vật tư, hàng hóa
- Kế toán TSCĐ và các khoản đầu tư dài hạn
- Kế toán tiền lương, tiền công và các khoản trích theo tiền lương
- Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
- Kế toán doanh thu, thu nhập khác, chi phí, xác định kết quả và phân phối
kết quả kinh doanh
- Kế toán các khoản nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu
-
Lập
báo cáo kế toán (gồm báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị) trong đó
các báo cáo tài chính là thông tin tài chính bắt buộc phải cung cấp công khai
Các doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực khác
nhau, về cơ bản kế toán các yếu tố: tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu có
tính tương đồng. Đặc thù các doanh nghiệp có loại hình kinh doanh khác nhau chi
phối làm cho nội dung kế toán chi phí, doanh thu, kết quả có những chi tiết
khác biệt riêng biệt.
Từng nội dung của công tác kế toán doanh nghiệp
đều được thực hiện thu thập, xử lý và cung cấp thông tin bằng những phương pháp
riêng có của kế toán, từ lập và luân chuyển chứng từ, tính toán, đánh giá, sử dụng
các tài khoản kế toán và nguyên tắc quy định phương pháp ghi chép trên các tài
khoản kế toán để phản ánh các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh vào sổ kế
toán (sổ kế toán tổng hợp, sổ kế toán chi tiết), tổng hợp và lập các báo cáo
tài chính. Bộ tài chính quy định cụ thể về hệ thống chứng từ, hệ thống tài khoản
và sổ kế toán, báo cáo tài chính cho từng lĩnh vực hoạt động theo các nội dung
của công tác kế toán doanh nghiệp.
Ngoài ra, Bộ tài chính hướng dẫn áp dụng kế
toán quản trị để các doanh nghiệp tham khảo, vận dụng.
1.4. TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP
Đứng trước xu hướng khu vực hóa và toàn cầu
hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, Việt Nam đang tích cực tham gia vào các
tổ chức kinh tế như AFTA, WTO… Điều này cũng đồng nghĩa với việc Việt Nam phải
mở cửa cho nước ngoài vào đầu tư một số ngành. Để tồn tại và phát triển trong một
thị trường có sự cạnh tranh, giải pháp quan trọng đối với mọi doanh nghiệp nói
chung là sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Trong điều kiện đó, các doanh nghiệp cần
nắm bắt đầy đủ, kịp thời mọi thông tin về tình hình tài chính, tình hình hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp, nâng cao chất lượng thông tin kế toán. Để thực hiện
tốt vai trò của mình trong công tác quản lý, đòi hỏi tổ chức công tác kế toán
doanh nghiệp phải tuân theo các nguyên tắc sau:
Ø
Tổ chức công tác kế toán phải
tuân thủ những quy định trong điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước, luật kế toán,
phù hợp với yêu cầu quản lý vĩ mô của Nhà nước
Ø
Tổ chức công tác kế toán phải
tuân thủ theo các chuẩn mức kế toán, chế độ chính sách, chế độ thể lệ về tài
chính, kế toán do Nhà nước ban hành.
Ø
Tổ chức công tác kế toán phải
phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc điểm tổ chức quản lý,
quy mô, địa bàn hoạt động của doanh nghiệp.
Ø
Tổ chức công tác kế toán phải
phù hợp với yêu cầu và trình độ nghiệp vụ chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản
lý, cán bộ kế toán trong doanh nghiệp.
Ø
Tổ chức công tác kế toán phải
đảm bảo hiệu lực và hiệu quả.
Bộ máy kế toán của một doanh nghiệp là tập hợp
những người làm kế toán tại doanh nghiệp cùng với các phương tiện trang thiết bị
dùng để ghi chép, tính toán xử lý toàn bộ thông tin liên quan đến công tác kế
toán tại doanh nghiệp từ khâu thu nhận, kiểm tra, xử lý đến khâu tổng hợp, cung
cấp những thông tin kinh tế về các hoạt động của đơn vị. Vấn đề nhân sự để thực
hiện công tác kế toán có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong tổ chức kế toán của
doanh nghiệp. Tổ chức nhân sự như thế nào để từng người phát huy được cao nhất
sở trường của mình, đồng thời tác động tích cực đến những bộ phận hoặc người
khác có liên quan là mục tiêu của tổ chức bộ máy kế toán.
Tổ chức bộ máy kế toán cần phải căn cứ vào qui
mô, vào đặc điểm tổ chức sản xuất và quản lý cũng như vào yêu cầu quản lý của
doanh nghiệp. Nội dung của tổ chức bộ máy kế toán bao gồm:
Ø
Tổ chức bổ nhiệm Kế toán
trưởng, hoạch định vai trò và quyền hạn của Kế toán trưởng.
Kế toán
trưởng là chức danh nghề nghiệp được Nhà nước qui định. Kế toán trưởng có trách
nhiệm tổ chức, điều hành toàn bộ công tác hạch toán trong doanh nghiệp. Xuất
phát từ vai trò kế toán trong công tác quản lý nên Kế toán trưởng có vị trí
quan trọng trong bộ máy quản lý của doanh nghiệp. Kế toán trưởng không chỉ là
người tham mưu mà còn là người kiểm tra, giám sát hoạt động của doanh nghiệp,
trước hết là các hoạt động tài chính. Thực hiện tốt vai trò kế toán trưởng
chính là làm cho bộ máy kế toán phát huy được hiệu quả hoạt động, thực hiện các
chức năng vốn có của kế toán.
Với vai
trò và quyền hạn của mình, Kế toán trưởng sẽ thực hiện phân công công việc và
trách nhiệm cho các kế toán viên;
Nội dung hạch toán tại một doanh nghiệp bao gồm
nhiều phần hành cụ thể phải được phân công cho nhiều người thực hiện. Mỗi người
thực hiện một số phần hành nhất định dưới sự điều khiển chung của kế toán trưởng.
Các phần hành kế toán có mối liên hệ với nhau nên việc phân công cần đảm bảo
tính khoa học và có sự tác động qua lại để cùng thực hiện tốt các nhiệm vụ kế
toán của doanh nghiệp.
Bộ máy kế toán trong doanh nghiệp thường tổ chức
thành các phần hành sau:
- Phần hành kế toán lao động - tiền
lương.
- Phần hành kế toán vật tư - tài sản
cố định.
- Phần hành kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm.
- Phần hành kế toán thanh toán.
- Phần hành kế toán tổng hợp (các
phần hành kế toán còn lại và lập báo cáo kế toán).
Ø
Xây dựng kế hoạch công tác
cho phòng kế toán.
Xây
dựng kế hoạch công tác là biện pháp quan trọng đảm bảo cho việc thực hiện các
phần hành kế toán được trôi chảy, qua đó sẽ kiểm tra được tiến độ thực hiện và
điều chỉnh, phối hợp công việc một cách nhanh chóng để tăng cường được năng suất
và hiệu quả hoạt động của bộ máy kế toán.
Tùy theo quy mô và đặc điểm về tổ chức sản xuất
và quản lý của doanh nghiệp mà tổ chức bộ máy được thực hiện theo các hình thức
sau:
· Hình thức tổ chức bộ máy kế toán tập trung:
Hình thức tổ chức bộ máy kế toán tập trung là
hình thức tổ chức mà toàn bộ công tác kế toán trong doanh nghiệp được tiến hành
tập trung tại phòng kế toán doanh nghiệp. Ở các bộ phận khác không tổ chức bộ
máy kế toán riêng mà chỉ bố trí các nhân viên làm nhiệm vụ hướng dẫn kiểm tra
công tác kế toán ban đầu, thu nhận kiểm tra chứng từ, ghi chép sổ sách, hạch
toán nghiệp vụ phục vụ cho nhu cầu quản lý sản xuất kinh doanh của từng bộ phận
đó, lập báo cáo nghiệp vụ và chuyển chứng từ cùng báo cáo về phòng kế toán
doanh nghiệp để xử lý và tiến hành công tác kế toán.
Ưu điểm: Là tạo điều kiện
thuận lợi để vận dụng các phương tiện kỹ thuật tính toán hiện đại, bộ máy kế
toán ít nhân viên nhưng đảm bảo được việc cung cấp thông tin kế toán kịp thời
cho việc quản lý và chỉ đạo sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
· Hình thức tổ chức bộ máy kế toán phân tán:
Hình thức tổ chức kế toán phân tán là hình thức
tổ chức mà công tác kế toán không những được tiến hành ở phòng kế toán doanh
nghiệp mà còn được tiến hành ở những bộ phận khác như phân xưởng hay đơn vị sản
xuất trực thuộc doanh nghiệp. Công việc kế toán ở những bộ phận khác do bộ máy
kế toán ở nơi đó đảm nhận từ công việc kế toán ban đầu, kiểm tra xử lý chứng từ
đến kế toán chi tiết và kế toán tổng hợp một số hoặc tất cả các phần hành kế
toán và lập báo cáo kế toán trong phạm vi của bộ phận theo qui định của kế toán
trưởng.
Phòng kế toán của doanh nghiệp thực hiện tổng
hợp số liệu từ báo cáo ở các bộ phận gửi về, phản ánh các nghiệp vụ có tính chất
chung toàn doanh nghiệp, lập báo cáo theo quy định của Nhà nước, đồng thời thực
hiện việc hướng dẫn kiểm tra công tác kế toán của các bộ phận.
Hình thức kế toán này được vận dụng thích hợp
trong các doanh nghiệp có quy mô lớn - liên hợp sản xuất kinh doanh.
· Hình thức tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán:
Hình thức tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung
vừa phân tán là hình thức tổ chức bộ máy kết hợp hai hình thức tổ chức trên, bộ
máy tổ chức theo hình thức này gồm phòng kế toán trung tâm của doanh nghiệp và
các bộ phận kế toán hay nhân viên kế toán ở các đơn vị - bộ phận khác. Phòng kế
toán trung tâm thực hiện các nghiệp vụ kinh tế liên quan toàn doanh nghiệp và
các bộ phận khác không tổ chức kế toán, đồng thời thực hiện tổng hợp các tài liệu
kế toán từ các bộ phận khác có tổ chức kế toán gửi đến, lập báo cáo chung toàn
đơn vị, hướng dẫn kiểm tra toàn bộ công tác kế toán, kiễm tra kế toán toàn đơn
vị. Các bộ phận kế toán ở các bộ phận khác thực hiện công tác kế toán tương đối
hoàn chỉnh các nghiệp vụ kế toán phát sinh ở bộ phận đó theo sự phân công của
phòng kế toán trung tâm. Các nhân viên kế toán ở các bộ phận có nhiệm vụ thu thập
chứng từ, kiểm tra và có thể xử lý sơ bộ chứng từ, định kỳ gửi chứng từ kế toán
về phòng kế toán trung tâm.
Hình thức tổ chức bộ máy kế toán này thường
phù hợp với những đơn vị có qui mô lớn nhưng các bộ phận phụ thuộc có sự phân cấp
quản lý khác nhau thực hiện công tác quản lý theo sự phân công đó.
Tóm lại, để thực hiện đầy đủ chức năng của
mình, bộ máy kế toán của doanh nghiệp phải được tổ chức khoa học, hợp lý,
chuyên môn hóa, đảm bảo sự lãnh đạo tập trung, thống nhất và trực tiếp của kế
toán trưởng, đồng thời cũng phải phù hợp việc tổ chức sản xuất kinh doanh cũng
như trình độ quản lý của doanh nghiệp.
a. Nội dung và mẫu chứng từ kế toán
Chứng từ kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp
phải thực hiện theo đúng nội dung, phương pháp lập, ký chứng từ theo quy định của
Luật Kế toán và Nghị định số 129/2004/NĐ-CP ngày 31/5/2004 của Chính phủ, các
văn bản pháp luật khác có liên quan đến chứng từ kế toán và các quy định trong
chế độ này.
Doanh nghiệp có các nghiệp vụ kinh tế, tài
chính đặc thù chưa được quy định danh mục, mẫu chứng từ trong chế độ kế toán
này thì áp dụng theo quy định về chứng từ tại chế độ kế toán riêng, các văn bản
pháp luật khác hoặc phải được Bộ Tài chính chấp thuận.
b. Hệ thống biểu mẫu chứng từ kế toán
Hệ thống biểu mẫu chứng từ kế toán áp dụng cho
các doanh nghiệp, gồm:
- Chứng từ kế toán ban
hành theo Chế độ kế toán doanh nghiệp này, gồm 5 chỉ tiêu:
+ Chỉ tiêu lao động tiền lương;
+ Chỉ tiêu hàng tồn kho;
+ Chỉ tiêu bán hàng;
+ Chỉ tiêu tiền tệ;
+ Chỉ tiêu TSCĐ.
- Chứng từ kế toán ban hành theo các văn bản
pháp luật khác (Mẫu và hướng dẫn lập áp dụng theo các văn bản đã ban hành).
c. Lập chứng từ kế toán
Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh
liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp đều phải lập chứng từ kế toán. Chứng từ
kế toán chỉ lập 1 lần cho một nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh. Nội dung
chứng từ kế toán phải đầy đủ các chỉ tiêu, phải rõ ràng, trung thực với nội
dung nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh. Chữ viết trên chứng từ phải rõ
ràng, không tẩy xoá, không viết tắt. Số tiền viết bằng chữ phải khớp, đúng với
số tiền viết bằng số.
Chứng từ kế toán phải được lập đủ số liên theo
quy định cho mỗi chứng từ. Đối với chứng từ lập nhiều liên phải được lập một lần
cho tất cả các liên theo cùng một nội dung bằng máy tính, máy chữ hoặc viết lồng
bằng giấy than. Trường hợp đặc biệt phải lập nhiều liên nhưng không thể viết một
lần tất cả các liên chứng từ thì có thể viết hai lần nhưng phải đảm bảo thống
nhất nội dung và tính pháp lý của tất cả các liên chứng từ.
Các chứng từ kế toán được lập bằng máy vi tính
phải đảm bảo nội dung quy định cho chứng từ kế toán.
d. Ký chứng từ kế toán
Mọi chứng từ kế toán phải có đủ chữ ký theo chức
danh quy định trên chứng từ mới có giá trị thực hiện. Riêng chứng từ điện tử phải
có chữ ký điện tử theo quy định của pháp luật. Tất cả các chữ ký trên chứng từ
kế toán đều phải ký bằng bút bi hoặc bút mực, không được ký bằng mực đỏ, bằng
bút chì, chữ ký trên chứng từ kế toán dùng để chi tiền phải ký theo từng liên.
Chữ ký trên chứng từ kế toán của một người phải thống nhất và phải giống với chữ
ký đã đăng ký theo quy định, trường hợp không đăng ký chữ ký thì chữ ký lần sau
phải khớp với chữ ký các lần trước đó.
Các doanh nghiệp chưa có
chức danh kế toán trưởng thì phải cử người phụ trách kế toán để giao dịch với
khách hàng, ngân hàng, chữ ký kế toán trưởng được thay bằng chữ ký của người phụ
trách kế toán của đơn vị đó. Người phụ trách kế toán phải thực hiện đúng nhiệm
vụ, trách nhiệm và quyền quy định cho kế toán trưởng.
Chữ ký của người đứng đầu doanh nghiệp (Tổng
Giám đốc, Giám đốc hoặc người được uỷ quyền), của kế toán trưởng (hoặc người được
uỷ quyền) và dấu đóng trên chứng từ phải phù hợp với mẫu dấu và chữ ký còn giá
trị đã đăng ký tại ngân hàng. Chữ ký của kế toán viên trên chứng từ phải giống
chữ ký đã đăng ký với kế toán trưởng.
Kế toán trưởng (hoặc người được uỷ quyền)
không được ký “thừa uỷ quyền” của người đứng đầu doanh nghiệp. Người được uỷ
quyền không được uỷ quyền lại cho người khác.
Các doanh nghiệp phải mở sổ đăng ký mẫu chữ ký
của thủ quỹ, thủ kho, các nhân viên kế toán, kế toán trưởng (và người được uỷ
quyền), Tổng Giám đốc (và người được uỷ quyền). Sổ đăng ký mẫu chữ ký phải đánh
số trang, đóng dấu giáp lai do Thủ trưởng đơn vị (hoặc người được uỷ quyền) quản
lý để tiện kiểm tra khi cần. Mỗi người phải ký ba chữ ký mẫu trong sổ đăng ký.
Những cá nhân có quyền hoặc được uỷ quyền ký
chứng từ, không được ký chứng từ kế toán khi chưa ghi hoặc chưa ghi đủ nội dung
chứng từ theo trách nhiệm của người ký.
Việc phân cấp ký trên chứng từ kế toán do Tổng
Giám đốc (Giám đốc) doanh nghiệp quy định phù hợp với luật pháp, yêu cầu quản
lý, đảm bảo kiểm soát chặt chẽ, an toàn tài sản.
e. Trình tự luân chuyển và kiểm tra chứng từ kế
toán
Tất cả các chứng từ kế toán do doanh nghiệp lập
hoặc từ bên ngoài chuyển đến đều phải tập trung vào bộ phận kế toán doanh nghiệp.
Bộ phận kế toán kiểm tra những chứng từ kế toán đó và chỉ sau khi kiểm tra và
xác minh tính pháp lý của chứng từ thì mới dùng những chứng từ đó để ghi sổ kế
toán.
v
Trình tự luân chuyển chứng
từ kế toán bao gồm các bước sau:
- Lập, tiếp
nhận, xử lý chứng từ kế toán;
- Kế toán
viên, kế toán trưởng kiểm tra và ký chứng từ kế toán hoặc trình Giám đốc doanh
nghiệp ký duyệt;
- Phân loại,
sắp xếp chứng từ kế toán, định khoản và ghi sổ kế toán;
- Lưu trữ,
bảo quản chứng từ kế toán.
v
Trình tự kiểm tra chứng từ
kế toán.
- Kiểm tra
tính rõ ràng, trung thực, đầy đủ của các chỉ tiêu, các yếu tố ghi chép trên chứng
từ kế toán;
- Kiểm tra tính hợp pháp của nghiệp vụ kinh tế,
tài chính phát sinh đã ghi trên chứng từ kế toán, đối chiếu chứng từ kế toán với
các tài liệu khác có liên quan;
- Kiểm tra tính chính xác của số liệu, thông
tin trên chứng từ kế toán.
Khi kiểm tra chứng từ kế toán nếu phát hiện có
hành vi vi phạm chính sách, chế độ, các quy định về quản lý kinh tế, tài chính
của Nhà nước, phải từ chối thực hiện (không xuất quỹ, thanh toán, xuất kho,…) đồng
thời báo ngay cho Giám đốc doanh nghiệp biết để xử lý kịp thời theo pháp luật
hiện hành.
Đối với những chứng từ kế toán lập không đúng
thủ tục, nội dung và chữ số không rõ ràng thì người chịu trách nhiệm kiểm tra
hoặc ghi sổ phải trả lại, yêu cầu làm thêm thủ tục và điều chỉnh sau đó mới làm
căn cứ ghi sổ.
f. Dịch chứng từ kế toán ra tiếng Việt
Các chứng từ kế toán ghi bằng tiếng nước
ngoài, khi sử dụng để ghi sổ kế toán ở Việt Nam phải được dịch ra tiếng Việt.
Những chứng từ ít phát sinh hoặc nhiều lần phát sinh nhưng có nội dung không giống
nhau thì phải dịch toàn bộ nội dung chứng từ kế toán. Những chứng từ phát sinh
nhiều lần, có nội dung giống nhau thì bản đầu phải dịch toàn bộ, từ bản thứ hai
trở đi chỉ dịch những nội dung chủ yếu như: tên chứng từ, tên đơn vị và cá nhân
lập, tên đơn vị và cá nhân nhận, nội dung kinh tế của chứng từ, chức danh của
người ký trên chứng từ... Người dịch phải ký, ghi rõ họ tên và chịu trách nhiệm
về nội dung dịch ra tiếng Việt. Bản chứng từ dịch ra tiếng Việt phải đính kèm với
bản chính bằng tiếng nước ngoài.
g. Sử dụng, quản lý, in và phát hành biểu mẫu
chứng từ kế toán
Tất cả các doanh nghiệp đều phải sử dụng thống
nhất mẫu chứng từ kế toán quy định trong chế độ kế toán này. Trong quá trình thực
hiện, các doanh nghiệp không được sửa đổi biểu mẫu chứng từ thuộc loại bắt buộc.
Mẫu chứng từ in sẵn phải được bảo quản cẩn thận,
không được để hư hỏng, mục nát. Séc và giấy tờ có giá phải được quản lý như tiền.
Biểu mẫu chứng từ kế toán bắt buộc do Bộ Tài
chính hoặc đơn vị được Bộ Tài chính uỷ quyền in và phát hành. Đơn vị được uỷ
quyền in và phát hành chứng từ kế toán bắt buộc phải in đúng theo mẫu quy định,
đúng số lượng được phép in cho từng loại chứng từ và phải chấp hành đúng các
quy định về quản lý ấn chỉ của Bộ Tài chính.
Đối với các biểu mẫu chứng từ kế toán hướng dẫn,
các doanh nghiệp có thể mua sẵn hoặc tự thiết kế mẫu, tự in, nhưng phải đảm bảo
các nội dung chủ yếu của chứng từ quy định tại Điều 17 Luật Kế toán.
h. Các doanh nghiệp có sử dụng chứng từ điện tử
cho hoạt động kinh tế, tài chính và ghi sổ kế toán thì phải tuân thủ theo quy định
của các văn bản pháp luật về chứng từ điện tử.
i. Danh mục chứng từ kế toán
TT
|
TÊN CHỨNG TỪ
|
SỐ HIỆU
|
TÍNH CHẤT
|
|||
BB (*)
|
HD (*)
|
|||||
A/CHỨNG TỪ KẾ TOÁN BAN
HÀNH THEO QUYẾT ĐỊNH NÀY
|
||||||
I/ Lao động tiền lương
|
||||||
1
|
Bảng chấm công
|
01a-LĐTL
|
x
|
|||
2
|
Bảng chấm công làm thêm
giờ
|
01b-LĐTL
|
x
|
|||
3
|
Bảng thanh toán tiền
lương
|
02-LĐTL
|
x
|
|||
4
|
Bảng thanh toán tiền thưởng
|
03-LĐTL
|
x
|
|||
5
|
Giấy đi đường
|
04-LĐTL
|
x
|
|||
6
|
Phiếu xác nhận sản phẩm
hoặc công việc hoàn thành
|
05-LĐTL
|
x
|
|||
7
|
Bảng thanh toán tiền làm
thêm giờ
|
06-LĐTL
|
X
|
|||
8
|
Bảng thanh toán tiền thuê
ngoài
|
07-LĐTL
|
X
|
|||
9
|
Hợp đồng giao khoán
|
08-LĐTL
|
X
|
|||
10
|
Biên bản thanh lý (nghiệm
thu) hợp đồng giao khoán
|
09-LĐTL
|
X
|
|||
11
|
Bảng kê trích nộp các khoản
theo lương
|
10-LĐTL
|
X
|
|||
12
|
Bảng phân bổ tiền lương
và bảo hiểm xã hội
|
11-LĐTL
|
X
|
|||
II/ Hàng tồn kho
|
||||||
1
|
Phiếu nhập kho
|
01-VT
|
X
|
|||
2
|
Phiếu xuất kho
|
02-VT
|
X
|
|||
3
|
Biên
bản kiểm nghiệm vật tư, công cụ, sản phẩm, hàng hoá
|
03-VT
|
X
|
|||
4
|
Phiếu báo vật tư còn lại
cuối kỳ
|
04-VT
|
X
|
|||
5
|
Biên bản kiểm kê vật tư,
công cụ, sản phẩm, hàng hoá
|
05-VT
|
X
|
|||
6
|
Bảng kê mua hàng
|
06-VT
|
X
|
|||
7
|
Bảng phân bổ nguyên liệu,
vật liệu, công cụ, dụng cụ
|
07-VT
|
X
|
|||
III/ Bán hàng
|
||||||
1
|
Bảng thanh toán hàng đại
lý, ký gửi
|
01-BH
|
X
|
|||
2
|
Thẻ quầy hàng
|
02-BH
|
X
|
|||
IV/ Tiền tệ
|
||||||
1
|
Phiếu thu
|
01-TT
|
x
|
|||
2
|
Phiếu chi
|
02-TT
|
x
|
|||
3
|
Giấy đề nghị tạm ứng
|
03-TT
|
X
|
|||
4
|
Giấy thanh toán tiền tạm ứng
|
04-TT
|
X
|
|||
5
|
Giấy đề nghị thanh toán
|
05-TT
|
X
|
|||
6
|
Biên lai thu tiền
|
06-TT
|
x
|
|||
7
|
Bảng kê vàng, bạc, kim
khí quý, đá quý
|
07-TT
|
X
|
|||
8
|
Bảng kiểm kê quỹ (dùng
cho VND)
|
08a-TT
|
X
|
|||
9
|
Bảng kiểm kê quỹ (dùng
cho ngoại tệ, vàng bạc...)
|
08b-TT
|
X
|
|||
10
|
Bảng kê chi tiền
|
09-TT
|
X
|
|||
V/ Tài sản cố định
|
||||||
1
|
Biên bản giao nhận TSCĐ
|
01-TSCĐ
|
X
|
|||
2
|
Biên bản thanh lý TSCĐ
|
02-TSCĐ
|
X
|
|||
3
|
Biên bản bàn giao TSCĐ sửa
chữa lớn hoàn thành
|
03-TSCĐ
|
X
|
|||
4
|
Biên bản đánh giá lại
TSCĐ
|
04-TSCĐ
|
X
|
|||
5
|
Biên bản kiểm kê TSCĐ
|
05-TSCĐ
|
X
|
|||
6
|
Bảng tính và phân bổ khấu
hao TSCĐ
|
06-TSCĐ
|
X
|
|||
B/ CHỨNG TỪ BAN HÀNH THEO
CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT KHÁC
|
||||||
1
|
Giấy chứng nhận nghỉ ốm
hưởng BHXH
|
X
|
||||
2
|
Danh sách người nghỉ hưởng
trợ cấp ốm đau, thai sản
|
X
|
||||
3
|
Hoá đơn Giá trị gia tăng
|
01GTKT-3LL
|
x
|
|||
4
|
Hoá đơn bán hàng thông
thường
|
02GTGT-3LL
|
x
|
|||
5
|
Phiếu xuất kho kiêm vận
chuyển nội bộ
|
03 PXK-3LL
|
x
|
|||
6
|
Phiếu xuất kho hàng gửi đại
lý
|
04 HDL-3LL
|
x
|
|||
7
|
Hoá đơn dịch vụ cho thuê
tài chính
|
05 TTC-LL
|
x
|
|||
8
|
Bảng kê thu mua hàng hoá
mua vào không có hoá đơn
|
04/GTGT
|
x
|
|||
9
|
..........................
|
|||||
Ghi chú: (*) BB: Mẫu bắt buộc
(*) HD: Mẫu hướng dẫn
Tài khoản kế toán dùng để phân loại hệ thống
hóa các nghiệp vụ kinh tế, tài chính theo nội dung kinh tế. Hệ thống tài khoản
kế toán là bảng kê các tài khoản kế toán dùng cho đơn vị kế toán.
Hệ thống
tài khoản kế toán áp dụng cho doanh nghiệp được ban hành chính thức theo quyết
định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ tài chính “ Quyết định về
việc ban hành chế độ Kế toán doanh nghiệp”, kết hợp thông tư 206/2009/TT-BTC
ngày 27/10/2009 và thông tư 244/2009/TT-BTC ngày 31/12/2009.
Đối
với doanh nghiệp vừa và nhỏ áp dụng theo quyết định 48/2006/QĐ-BTC ngày
14/9/2006 của Bộ trưởng Bộ tài chính “ Quyết định về việc ban hành chế độ Kế
toán doanh nghiệp nhỏ và vừa”
Doanh nghiệp phải căn cứ vào hệ thống tài khoản
kế toán do Bộ tài chính quy định để lựa chọn, áp dụng một hệ thống tài khoản kế
toán phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh, lĩnh vực hoạt động của doanh
nghiệp. Ví dụ: Một doanh nghiệp chỉ đơn thuần hoạt động kinh doanh thương mại
thì không thực hiện quá trình sản xuất. Do đó, không sử dụng tài khoản 621,
622, 627, 154, 155… hoặc một doanh nghiệp áp dụng kế toán hàng tồn kho theo
phương pháp KKTX thì không sử dụng tài khoản 611, 631..
- Trường hợp doanh nghiệp lựa chọn hệ thống
tài khoản kế toán khác với hệ thống tài khoản kế toán do Bộ Tài chính quy định
thì phải được Bộ tài chính chấp thuận bằng văn bản. Thông thường những ngành
kinh doanh có đặc thù khác nhau trong hoạt động đòi hỏi phải có một hệ thống
tài khoản kế toán mà trong đó có những tài khoản cấp một bổ sung với hệ thống
tài khoản kế toán thống nhất, hoặc quy định về tài khoản chi tiết cấp 2 khác với
hệ thống tài khoản thống nhất.
- Doanh nghiệp quy định mở chi tiết các tài
khoản đã lựa chọn phục vụ yêu cầu quản lý của doanh nghiệp.
Việc doanh nghiệp lựa chọn những tài khoản hợp
lý sẽ xử lý và cung cấp thông tin kế toán đầy đủ, hữu ích, phục vụ tốt cho yêu
cầu quản lý của doanh nghiệp. Việc quy định chi tiết các tài khoản áp dụng ở mức
độ nào tùy thuộc vào yêu cầu quản lý, trình độ của cán bộ kế toán, phương tiện
kỹ thuật thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin kế toán. Những doanh nghiệp thực
hiện kế toán trên máy thường quy định được chi tiết nhiều hơn, theo đó có thể
quản lý chặt chẽ hơn các đối tượng quản lý kinh tế tài chính.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét