Biên soạn: Nguyễn Thị Phương Nga & P.Đ.N
CHƯƠNG 3. KẾ TOÁN XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA
Hoạt
động kinh doanh XNK là hoạt động mua, bán hàng hóa và dịch vụ giữa quốc gia này
với quốc gia khác. Các hoạt động này được tiến hành trên cơ sở các hiệp định,
nghị định thư kí kết giữa các quốc gia, trên cơ sở pháp luật của từng quốc gia
và luật thương mại quốc tế.
Hoạt
động kinh doanh XNK có các đặc điểm chủ yếu sau:
- Thời gian lưu chuyển hàng hóa trong hoạt động kinh doanh xuất – nhập
khẩu dài hơn so với thời gian lưu chuyển hàng hóa trong hoạt động thương mại
trong nước do phải thực hiện 2 giai đoạn mua hàng và 2 giai đoạn bán hàng.
- Hàng hóa trong hoạt động kinh doanh xuất – nhập khẩu rất đa dạng và
phong phú. Mặt hàng xuất nhập khẩu tùy vào khả năng sản xuất và nhu cầu tiêu
dùng của từng quốc gia. Ví dụ nước ta chủ yếu xuất khẩu các sản phẩm nông, lâm,
ngư nghiệp, hàng thủ công mỹ nghệ, dầu thô; nhập khẩu các loại máy móc thiết bị.
- Thời điểm xuất – nhập khẩu hàng hóa và thời điểm thanh toán tiền hàng
thường không trùng nhau và có khoảng cách dài.
- Phương thức thanh toán: Trong hoạt động kinh doanh xuất – nhập khẩu,
phương thức thanh toán chủ yếu được sử dụng là phương thức thanh toán bằng thư
tín dụng. Thanh toán bằng ngoại tệ.
- Hai bên mua – bán có quốc tịch khác nhau, pháp luật khác nhau, tập
quán kinh doanh khác nhau. Do vậy, phải tuân thủ luật kinh doanh cũng như tập
quán kinh doanh của từng nước và luật thương mại quốc tế.
3.1.2. Các phương thức xuất nhập khẩu hàng
hóa
Xuất – nhập khẩu trực tiếp là phương thức mua bán hàng hóa mà trong đó,
đơn vị tham gia hoạt động xuất – nhập khẩu trực tiếp đàm phán, kí kết hợp đồng
với nước ngoài; trực tiếp giao, nhận hàng và thanh toán tiền hàng. Các doanh
nghiệp tiến hành xuất – nhập khẩu trực tiếp trên cơ sở tự cân đối về tài chính,
có quyền tìm kiếm bạn hàng, định đoạt giá cả, lựa chọn phương thức thanh toán
và thị trường, xác định phạm vi kinh doanh nhưng trong khuôn khổ chính sách quản
lý xuất – nhập khẩu của Nhà nước.
Xuất nhập khẩu ủy thác là phương thức mua bán hàng hóa mà trong đó, đơn
vị tham gia hoạt động kinh doanh xuất – nhập khẩu không đứng ra trực tiếp đàm
phán với nước ngoài mà phải nhờ qua một đơn vị xuất – nhập khẩu có uy tín thực
hiện hoạt động xuất – nhập khẩu cho mình.
Đặc điểm của hoạt động này là có hai bên tham gia trong hoạt động xuất –
nhập khẩu.
+ Bên giao ủy thác xuất – nhập khẩu (bên ủy thác): bên ủy thác là bên có
đủ điều kiện mua bán hoặc bán hàng xuất nhập khẩu.
+ Bên nhận ủy thác xuất – nhập khẩu (bên nhận ủy thác): Bên nhận ủy thác
xuất – nhập khẩu là bên đứng ra thay mặt bên ủy thác ký kết hợp đồng với nước
ngoài. Hợp đồng này được thực hiện thông qua hợp đồng ủy thác và chịu sự điều
chỉnh của luật kinh doanh trong nước. Bên nhận ủy thác phải chịu sự điều chỉnh
của luật kinh doanh trong nước. Bên nhận ủy thác sau khi ký hợp đồng ủy thác xuất
– nhập khẩu sẽ đóng vai trò là một bên của hợp đồng mua bán ngoại thương.
Theo phương thức kinh doanh xuất – nhập khẩu ủy thác, doanh nghiệp giao ủy
thác giữ vai trò là người sử dụng dịch vụ, còn doanh nghiệp nhận ủy thác lại giữ
vai trò là người cung cấp dịch vụ, hưởng hoa hồng (phí ủy thác) theo sự thỏa
thuận giữa hai bên ký trong hợp đồng ủy thác.
Nghiên cứu các điều kiện thương mại quốc tế là căn cứ để phân chia trách
nhiệm giữa người bán và người mua về hàng hóa, về các khoản chi phí, thuế và rủi
ro nhằm quản lý tốt hàng hóa xuất – nhập khẩu, ghi sổ kế toán đúng đắn, kịp thời.
Các điều kiện giao hàng thương mại quốc tế bao gồm:
- Giao hàng tại xưởng (EX works, -EXW): Theo điều khoản này, người bán
giao hàng cho người mua tại thời điểm giao hàng của mình, hàng hóa chưa làm thủ
tục thông quan xuất khẩu và chưa bốc lên phương tiện tiếp nhận. Trong trường hợp
này, người mua phải chịu mọi phí tổn, rủi ro từ khi nhận hàng tại cơ sở của người
bán (trừ khi có thỏa thuận riêng).
- Giao cho người vận chuyển (FCA): Người bán chuyển trách nhiệm hàng hóa
sang người mua sau khi giao hàng xong cho người chuyên chở do người mua chỉ định.
Người mua phải chịu rủi ro và phí tổn để hoàn thành các thủ tục hải quan cần
thiết cho xuất khẩu hàng hóa. Mọi phí tổn và rủi ro khác do người mua chịu kể từ
khi người bán giao hàng xong cho người chuyên chở.
- Giao dọc mạn tàu (FAS): người bán phải làm thủ tục thông quan xuất khẩu
cho hàng hóa (trừ phi có thỏa thuận riêng) chịu mọi trách nhiệm và chi phí cho
tới khi hàng được đặt dọc mạn tàu, trên sà lan, cầu cảng do người mua chỉ định.
Mọi phí tổn và rủi ro khác do người mua chịu.
- Giao lên tàu (FOB): Người bán làm mọi thủ tục thông quan xuất khẩu và
mọi chi phí cho tới khi hàng hóa đã qua lan can tàu tại cảng bốc quy định do
người mua chỉ định. Người mua chịu mọi phí tổn, rủi ro kể từ khi nhận hàng hóa
trên tàu.
- Tiền hàng và cước phí (CER): Điều kiện giao hàng này có nghĩa là người
bán giao hàng khi hàng hóa đã qua lan can tàu tại cảng gửi hàng. Nó cho biết
giá cả hàng hóa bao gồm giá của bản thân hàng hóa và cước phí vận chuyển. Người
bán phải có trách nhiệm làm thủ tục thông quan xuất nhập khẩu, trả các phí tổn
và cước vận chuyển cần thiết để đưa hàng hóa cũng như mọi chi phí phát sinh
thêm do các tình huống xảy ra thêm do các tình huống xảy ra sau thời điểm giao
hàng được chuyển từ người bán sang người mua. Người mua chịu mọi phí tổn, rủi
ro kể từ khi nhận hàng tại cảng.
- Tiền hàng, phí bảo hiểm và phí vận chuyển (CIF): Điều kiện giao hàng
này có ý nghĩa là người bán giao hàng khi hàng hóa đã qua lan can tàu tại cảng
gửi hàng. Nó cho biết giá cả hàng hóa bao gồm giá của bản thân hàng hóa, chi
phí bảo hiểm hàng hóa và cước phí vận chuyển hàng hóa đến cảng quy định. Người
bán phải có trách nhiệm làm thủ tục thông quan xuất khẩu, trả các phí tổn và cước
vận cần thiết để đưa hàng tới cảng đến quy định nhưng mọi rủi ro, mất mát, hư hại
về hàng hóa cũng như mọi chi phí phát sinh thêm do các tình huống xảy ra sau thời
điểm giao hàng được chuyển từ người bán sang người mua. Ngoài ra, người bán còn
phải mua bảo hiểm hàng hải (ở mức độ tối thiểu) để bảo vệ cho người mua trước
những rủi ro, mất mát, hư hại đối với hàng hóa trong quá trình chuyên chở.
- Cước phí trả tới (CPT): Theo điều kiện giao hàng này, người bán phải
làm thủ tục thông quan xuất khẩu cho hàng hóa, giao hàng cho người vận chuyển
do chính người bán chỉ định và trả cước phí vận chuyển hàng hóa đến nơi quy định.
Người mua phải tự chịu mọi rủi ro và các phí tổn phát sinh sau khi hàng hóa đã
được giao cho người chuyên chở đầu tiên.
- Cước và bảo hiểm đã trả tới (CIP): Trách nhiệm của bên bán cũng tương
tự như điều kiện CPT ở trên, chỉ khác là người bán phải mua bảo hiểm (ở mức độ
tối thiểu) để bảo vệ quyền lợi cho người mua khỏi bị tổn thất hàng hóa trong thời
gian vận chuyển.
- Giao tại biên giới (DAF): Người bán phải làm
thủ tục thông quan xuất khẩu và chịu mọi chi phí, rủi ro cho đến lúc giao hàng
(trừ phi có thỏa thuận riêng). Thời điểm giao hàng là thời điểm hàng hóa đã được
đặt dưới quyền định đoạt của người mua trên phương tiện vận chuyển chở đến,
chưa dỡ ra, chưa làm thủ tục thông quan nhập khẩu ở địa điểm quy định tại biên
giới (chưao qua biên giới hải quan của nước liền kề).
- Giao tại tàu (DES): Người bán phải làm thủ tục thông quan xuất khẩu và
chịu mọi chi phí, rủi ro cho đến lúc giao hàng (trừ phi có thỏa thuận riêng).
Thời điểm giao hàng là thời điểm hàng hóa được đặt dưới quyền định đoạt của người
mua trên boong tàu, chưa dỡ hàng, chưa làm thủ tục thông quan nhập khẩu ở cảng
đến quy định. Điều kiện này chỉ có thể sử dụng khi hàng hóa được giao bằng đường
biển hoặc đường thủy nội địa hoặc bằng vận tải đa phương thức trên một tàu ở cảng
đến. Nếu các bên muốn người bán chịu phí tổn và rủi ro về việc dỡ hàng thì nên
sử dụng điều kiện DEQ.
- Giao tại cầu cảng (DEQ): người bán giao hàng khi hàng hóa được đặt dưới
sự định đoạt của người mua trên tàu ở cảng đến quy định, chưa làm thủ tục nhập
khẩu. Người bán phải chịu mọi phí tổn và rủi ro liên quan tới việc đưa hàng hóa
tới cảng quy định và bốc dỡ hàng lên cầu tàu. Người mua phải làm mọi thủ tục
thông quan nhập khẩu và chịu mọi chi phí liên quan đến việc nhập khẩu hàng hóa
(trừ phi có thỏa thuận riêng).
- Giao hàng chưa nộp thuế (DDU): Người bán giao
hàng cho người mua, chưa làm thủ tục nhập khẩu, chưa dỡ hàng khỏi phương tiện vận
tải chở đến nơi quy định.
Người bán chỉ chịu mọi phí tổn và rủi ro liên quan đến việc đưa hàng hóa
tới nơi quy định. Người mua phải làm mọi thủ tục thông quan nhập khẩu và chịu mọi
chi phí liên quan đến việc nhập khẩu hàng hóa (trừ phi có thỏa thuận riêng)
- Giao hàng đã nộp thuế (DDP): Người bán giao hàng cho người mua, đã làm
xong thủ tục nhập khẩu chưa dỡ hàng hóa khỏi phương tiện vận tải chở đến nơi
quy định. Người bán phải chịu mọi phí tổn và rủi ro liên quan đến việc đưa hàng
hóa tới nơi quy định (kể cả các nghĩa vụ liên quan đến nhập khẩu hàng hóa). Do
vậy chỉ nên sử dụng điều kiện này khi người bán lấy được giấy phép nhập khẩu).
Phương thức thanh toán quốc tế là điều kiện quan trọng bậc nhất trong
các điều kiện thanh toán quốc tế cũng như trong hoạt động kinh doanh ngoại
thương. Nói đến phương thức thanh toán tức là nói đến việc người bán dùng cách
thức nào để thu được tiện hàng bán ra và người mua dùng cách nào để trả tiền
hàng mua vào. Trong buôn bán, người ta có thể lựa chọn nhiều phương thức thanh
toán khác nhau để thu tiền hoặc trả tiền nhưng xét cho cùng việc lựa chọn
phương thức cũng phải xuất phát từ người bán là thu tiền nhanh, đầy đủ, đúng hạn
và từ yêu cầu của người mua là nhập hàng đúng số lượng và chất lượng.
Phương thức chuyển tiền là phương thức mà trong đó, khách hàng (người trả
tiền) yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một người
khác (người hưởng lợi) ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền do
khách hàng yêu cầu. Các bên tham gia trong phương thức thanh toán này bao gồm:
- Người hưởng lợi (người chủ, chủ nợ, người bán, người tiếp nhận vốn đầu
tư) hoặc người nào đó do người chuyển tiền chỉ định.
- Ngân hàng chuyển tiền là ngân hàng ở nước người chuyển tiền.
- Ngân hàng đại lý của ngân hàng chuyển tiền là ngân hàng ở nước người
hưởng lợi.
v Các trường hợp áp dụng phương thức thanh toán
chuyển tiền:
- Thanh toán tiền hàng nhập khẩu với nước ngoài (không áp dụng trong
thanh toán hàng nhập khẩu với nước ngoài, vì dễ bị người mua chiếm dụng vốn)
+ Thời điểm chuyển tiền: Việc chuyển tiền thường được tiến hành ngay sau
khi nhận xong hàng hóa hoặc là sau khi nhận
được chứng từ về hàng hóa đã chuyển đi.
+ Căn cứ xác định số tiền chuyển trả: Lượng tiền chuyển trả được căn cứ
vào giá trị hàng hóa ghi trên hóa đơn thương mại hoặc kết quả của việc nhận
hàng về số lượng, chất lượng để quy ra số tiền phải chuyển.
+ Chuyển bằng thư chậm hơn chuyển bằng điện.
- Thanh toán trong lĩnh vực phi mậu dịch và các chi phí có liên quan đến
xuất – nhập khẩu hàng hóa.
- Chuyển vốn ra nước ngoài đầu tư hoặc chi tiêu phi mậu dịch.
- Chuyển kiều hối.
v Để chuyển tiền, doanh nghiệp phải lập đơn chuyển
tiền gửi đến một ngân hàng thương mại được phép thanh toán quốc tế. Đơn chuyển
tiền cần ghi đầy đủ các thông tin sau:
- Tên, địa chỉ của người hưởng lợi; số tài khoản nếu người hưởng lợi yêu
cầu.
- Số ngoại tệ xin chuyển :cần ghi rõ bằng số và bằng chữ loại ngoại tệ
đó.
- Lý do chuyển tiền.
- Những yêu cầu khác.
- Ký tên, đóng dấu.
v
Thanh toán
theo phương thức chuyển tiền được khái quát theo sơ đồ sau:

Trong
đó:
(1):
Giao dịch thương mại
(2):
Viết đơn yêu cầu chuyển tiền bằng thư (MT – mail tranfer) hoặc bằng điện (T/T:
telegraphic tranfer) trong đó ghi rõ nội dung theo quy định cùng với ủy nhiệm
chi (nếu có tài khoản mở tại ngân hàng)
(3a):
Chuyển tiền ra nước ngoài qua ngân hàng đại lý
(3b):
gửi giấy báo Nợ, giấy báo đã thanh toán cho người chuyển tiền
(4):
Ngân hàng đại lý chuyển tiền cho người hưởng lợi và gửi giấy báo Có cho người
hưởng lợi.
Theo
phương thức này, người bán mở tài khoản (hoặc một quyển sổ) để ghi nợ cho người
mua sau khi người bán đã hoàn thành giao hàng hay dịch vụ. Định kỳ (tháng, quý,
nữa năm…) người mua trả tiền cho người bán.
Việc
thanh toán theo phương thức này có thể khái quát qua sơ đồ sau:


Trong
đó:
(1):
Giao hàng hóa, dịch vụ cùng với gửi chứng từ hàng hóa
(2):
Báo nợ trực tiếp
(3):
Người mua dùng phương thức chuyển tiền để trả tiền khi đến định kỳ thanh toán.
Các trường hợp áp dụng phương thức thanh toán ghi sổ:
-
Thường
dùng cho thanh toán nội địa
-
Hai bên
mua, bán phải có sự tin cậy lẫn nhau.
-
Dùng cho
phương thức mua, bán hàng đổi hàng nhiều lần, thường xuyên trong một thời kỳ nhất
định (6 tháng, 1 năm…)
-
Phương thức
này chỉ có lợi cho người mua
-
Dùng cho
thanh toán tiền bán hàng ở nước ngoài.
-
Dùng cho
thanh toán tiền phí mậu dịch như tiền cước phí vận tải, tiền phí bảo hiểm, tiền
hoa hồng trong nghiệp vụ môi giới ủy thác tiền lãi cho người vay và người đầu
tư.
Nếu ở cương vị người bán, nếu hai bên không tín nhiệm
lẫn nhau, khi rủi ro xảy ra thì người bán sẽ phải chịu phần thiệt thòi. Ngược lại
ở cương vị người mua (người nhập khẩu), áp dụng phương thức thanh toán này sẽ
được hưởng tín dụng nhập khẩu và có quyền từ chối không thanh toán nếu hàng
không đúng quy cách phẩm chất trong hợp đồng.
Phương
thức nhờ thu là phương thức thanh toán mà trong đó người bán sau khi đã hoàn
thành nghĩa vụ giao hàng, cung ứng dịch vụ cho người mua sẽ tiến hành ủy thác
cho ngân hàng của mình thu nợ số tiền ở người mua trên cơ sở hối phiếu của người
bán lập ra.
v
Các bên
tham gia phương thức thanh toán nhờ thu:
-
Người bán
tức là người hưởng lợi.
-
Ngân hàng
bên bán là ngân hàng nhận được sự ủy thác của người bán.
-
Ngân hàng
đại lý của ngân hàng bên bán là ngân hàng ở nước người mua.
-
Người mua
tức là người trả tiền.
v
Phương thức
thanh toán nhờ thu gồm có các loại sau:
a.
Nhờ thu phiếu trơn (Clean collection)
Nhờ thu phiếu trơn là phương thức thanh toán mà trong đó người bán ủy
thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người mua căn cứ vào hối phiếu do mình lập ra,
còn chứng từ hàng hóa thì gửi thẳng cho người mua không qua ngân hàng.
Các trường hợp áp dụng phương thức thanh toán nhờ thu phiếu trơn:
-
Người bán
và người mua tin cậy lẫn nhau hoặc là có quan hệ liên doanh với nhau giữa công
ty mẹ, công ty con là chi nhánh của nhau.
-
Thanh toán
về các dịch vụ có liên quan tới xuất – nhập khẩu hàng hóa, vì việc thanh toán
này không cần thiết phải kèm theo chứng từ như tiền cước phí vận tải, bảo hiểm,
phạt bồi thường.
Phương thức nhờ thu phiếu trơn không được áp dụng
nhiều trong thanh toán về mậu dịch vì nó không đảm bảo quyền lợi cho người bán,
do việc nhận hàng của người mua hoàn toàn tách rời khỏi khâu thanh toán nên người
mua có thể nhận hàng và không trả tiền hoặc trả tiền chậm.
Đối với người mua áp dụng phương thức thanh toán
này cũng có điều kiện bất lợi vì nếu hối phiếu đến sớm hơn chứng từ hàng hóa,
người mua phải trả tiền ngay trong khi không biết việc giao hàng của người bán
có đúng hợp đồng hay không.
Trình tự tiến hành nghiệp vụ của nhờ thu phiếu
trơn có thể được khái quát ở sơ đồ sau:


Trong
đó:
(1):
Người bán sau khi gửi hàng và các chứng từ hàng hóa cho người mua, lập một hối
phiếu đòi tiền người mua và ủy thác cho ngân hàng của mình đòi tiền hộ.
(2):
Ngân hàng phục vụ bên bán gửi thư ủy nhiệm kèm hối phiếu cho ngân hàng đại lý của
mình ở nước ngoài (nước ngoài mua) nhờ thu tiền.
(3):
Ngân hàng đại lý chuyển tiền thu được cho ngân hàng phục vụ người bán.
(4a):
Ngân hàng phục vụ người bán thanh toán tiền hàng cho người bán
(4b):
Trường hợp người mua chấp nhận hối phiếu thì ngân hàng giữ hối phiếu hoặc chuyển
lại cho người bán. Khi đến hạn thanh toán, ngân hàng sẽ đòi tiền ở người mua và
thực hiện việc chuyển tiền thu được cho người bán.
b. Phương thức
nhờ thu kèm chứng từ (documentary collection)
Phương
thức nhờ thu phiếu trơn kèm chứng từ là phương thức thanh toán mà trong đó, người
bán ủy thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người mua không những căn cứ vào hối
phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ hàng hóa gửi kèm theo với điều kiện là nếu
người mua bán hàng mới trao bộ chứng từ hàng hóa cho người mua để nhận hàng hóa
cho người mua để nhận hàng.
Sơ đồ trình tự thanh toán theo phương thức nhờ
thu kèm chứng từ


Trong
đó:
(1):
Người bán tiến hành giao hàng; lập bộ chứng từ thanh toán và hối phiếu nhờ ngân
hàng thu hộ tiền ở người mua (người nhập khẩu) bằng thư ủy nhiệm.
(2):
Ngân hàng bên bán sẽ chuyển hối phiếu và bộ chứng từ thanh toán đến cho ngân hàng
bên mua.
(3):
Ngân hàng đại lý yêu cầu người mua (người xuất khẩu) trả tiền hoặc chấp nhận hối
phiếu.
(4):
Ngân hàng đại lý sẽ thu tiền ở người mua và trả cho người mua bộ chứng từ để đi
nhận hàng. Nếu chấp nhận hối phiếu thì người nhập khẩu (người mua) sẽ nhận được
bộ chứng từ sau khi chấp nhận hối phiếu. (Bộ chứng từ thanh toán trong nhập khẩu:
Hóa đơn thương mại, vận đơn, giấy chứng nhận bảo hiểm, giấy chứng nhận chất lượng
hàng hóa, giấy kê khai bao bì).
Như
vậy, trong phương thức nhờ thu kèm chứng từ, người bán ủy thác cho ngân hàng
ngoài việc thu hộ tiền còn không chế chứng từ hàng hóa đối với người mua. Đây
là sự khác nhau cơ bản giữa phương thức nhờ thu kèm chứng từ và nhờ thu phiếu
trơn. Với cách khống chế chứng từ này, quyền lợi của người bán được đảm bảo
hơn. Song, trong phương thức này còn có một số mặt sau đây:
-
Người bán thông qua ngân hàng mới khống chế được quyền định đoạt hàng hóa của
người mua chứ chưa khống chế được việc trả tiền của người mua.
- Người mua có thể kéo dài việc trả tiền bằng cách
chưa nhận bộ chứng từ hàng hóa hoặc có thể không trả tiền cũng được khi tình
hình thị trường bất lợi cho họ.
-
Việc trả tiền còn quá chậm chạp từ lúc giao hàng đến lúc nhận tiền có khi kéo
dài vài tháng.
-
Trong phương thức này, ngân hàng chỉ đóng vai trò là người trung gian thu tiền
hộ còn không có trách nhiệm đến việc trả tiền của người mua.
3.1.4.4.
Phương thức thanh toán bằng thư tín (Letter of credit – L/C)
Phương
thức thanh toán bằng thư tín (L/C) là một sự thỏa thuận mà trong đó, một ngân hàng
(ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người mở thư tín dụng)
sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi số tiền của
thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền
đó khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với
những quy định để nhập khẩu trong thư tín dụng.
v Các bên tham gia phương thức tín dụng chứng từ gồm
có:
-
Người xin mở thư tín dụng: là người mua, người nhập khẩu hàng hóa.
-
Ngân hàng mở thư tín dụng: là ngân hàng đại diện cho người nhập khẩu, nơi cấp
tín dụng cho người nhập khẩu.
-
Người hưởng lợi tín dụng: Là người bán, người xuất khẩu hay bất cứ người nào
khác mà người hưởng lợi chỉ định.
-
Ngân hàng thông báo thư tín dụng ở nước người hưởng lợi.


v
Thanh toán
bằng thư tín dụng có thể được khái quát theo sơ đồ sau:
Trong
đó:
(1):
Người mua hàng (người nhập khẩu) nộp đơn xin mở thư tín dụng, gửi đến ngân hàng
của mình yêu cầu mở thư tín dụng cho người bán hàng (người xuất khẩu) hưởng.
(2):
Căn cứ vào yêu cầu và đơn xin mở thư tín dụng, ngân hàng bên nhập khẩu mở thư
tín dụng (L/C) sẽ lập một thư tín dụng và thông qua ngân hàng đại lý của mình ở
nước người xuất khẩu thông báo về việc mở thư tín dụng đó và khi nhận được bản
gốc thư tín dụng thì chuyển ngay cho người xuất khẩu.
(3):
Khi nhận được thông báo này, ngân hàng thông báo sẽ thông báo cho người xuất khẩu
về toàn bộ nội dung thông báo về việc mở thư tín dụng đó, khi nhận được bản gốc
thư tín dụng thì chuyển ngay cho người xuất khẩu
(4):
Người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụng thì tiến hành giao hàng nếu không
thì tiến hành đề nghị ngân hàng mở L/C sửa đổi, bổ sung của thư tín dụng cho
phù hợp với hợp đồng.
(5a):
Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ thanh toán theo yêu cầu của
thư tín dụng xuất trình qua ngân hàng thông báo cho ngân hàng bên nhập khẩu mở
thư tín dụng xin thanh toán.
(5b):
Ngân hàng bên xuất khẩu chuyển bộ chứng từ cho người xuất khẩu.
(6):
Ngân hàng bên nhập khẩu mở thư tín dụng kiểm tra toàn bộ chứng từ thanh toán, nếu
thấy phù hợp với thư tín dụng thì tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu. Nếu
không phù hợp, ngân hàng từ chối thanh toán, trả lại toàn bộ chứng từ cho người
xuất khẩu.
(7):
Ngân hàng bên nhập khẩu mở thư tín dụng đòi tiền người nhập khẩu và chuyển bộ
chứng từ hàng hóa cho người nhập khẩu.
(8):
Người nhập khẩu kiểm tra, nếu thấy phù hợp với thư tín dụng thì hoàn trả lại
cho ngân hàng bên nhập khẩu mở thư tín dụng, nếu thấy không phù hợp thì có quyền
từ chối trả tiền.
v
Các loại
thư tín dụng thương mại thanh toán quốc tế:
-
Thư tín dụng
có thể hủy bỏ (Revocable L/C): là loại thư tín dụng mà người mua và ngân hàng
lúc nào cũng có thể tự ý sửa đổi hoặc hủy bỏ mà không cần báo cho người bán biết.
Trường hợp có thêm ngân hàng đại lý tham gia thì việc sửa đổi hoặc hủy bỏ chỉ
có hiệu lực khi ngân hàng đại lý nhận được thông báo và chưa trả tiền cho người
bán.
-
Thư tín dụng
không thể hủy bỏ (Irrevocable L/C): là loại thư tín dụng mà ngân hàng khi đã mở
thư tín dụng thì phải chịu trách nhiệm trả tiền cho người bán trong thời hạn
thư tín dụng có hiệu lực, không thể bị sửa đổi, hủy bỏ nếu không có sự đồng ý của
tất cả các bên liên quan.
-
Thư tín dụng
không thể hủy bỏ, miễn truy đòi (Irrevocable with recourse L/C): là loại thư
tín dụng không thể hủy bỏ mà sau khi người bán đã được ngân hàng thanh toán rồi
thì không phải truy hoàn lại số tiền họ đã nhận (kể cả khi có tranh chấp về chứng
từ).
- Thư tín dụng không thể hủy
bỏ có xác nhận (confirmed irrevocable L/C): là loại thư tín dụng không thể hủy
bỏ được một ngân hàng khác đảm bảo trả tiền theo yêu cầu của ngân hàng mở thư
tín dụng, ngân hàng xác nhận chịu trách nhiệm trả tiền cho người bán nếu như
ngân hàng mở thư tín dụng bị phá sản, không trả tiền được.
-
Thư tín dụng
đối ứng (reciprocal L/C): là loại thư tín dụng không thể hủy bỏ chỉ có hiệu lực
khi L/C đối ứng với nó được mở. L/C đối ứng được áp dụng trong phương thức mua
bán hàng đổi hàng hay gia công. Nó đảm bảo quyền lợi cho người gia công bởi vì
sản phẩm làm ra chỉ có những người đặt hàng tiêu thụ.
-
Thư tín dụng
có thể chuyển nhượng: là loại thư tín dụng không thể hủy bỏ mà ngân hàng trả tiền
được phép trả lại toàn bộ hay một phần số tiền cho một hay nhiều người theo lệnh
của người hưởng lợi đầu tiên. Thư tín dụng muốn được chuyển nhượng phải có lệnh
đặt biệt của ngân hàng mở thư tín dụng và trên thư tín dụng phải ghi rõ “có thể
chuyển nhượng”.
-
Thư tín dụng
tuần hoàn: là loại thư tín dụng mà sau khi sử dụng xong và đã hết thời gian hiệu
lực lại tự động có hiệu lực như cũ và tiếp tục được sử dụng trong thời gian nhất
định.
-
Thư tín dụng
giáp lưng: là loại thư tín dụng được mở ra căn cứ vào thư tín dụng khác đảm bảo.
-
Thư tín dụng
với điều khoản đỏ: là loại thư tín dụng mà các điều khoản được ghi bằng mực đỏ.
Ở loại thư tín dụng này, người mở thư tín dụng phải cam kết tài trợ ngay cho
người xuất khẩu ngay sau khi thư tín dụng được mở. Thông thường ngân hàng phát
hành cam kết ứng trước một số tiền nhất định khi nhận được các chứng từ mà các
bên đã thỏa thuận.
-
Thư tín dụng
dự phòng: là loại thư tín dụng mà người hưởng lợi phải bồi thường những thiệt hại
do mình gây ra cho người xin mở L/C nếu người hưởng lợi không hoàn thành nghĩa
vụ đã quy định trong thư tín dụng.
Thanh toán theo phương thức thư tín dụng thường
được sử dụng trong thanh toán hàng hóa xuất – nhập khẩu vì theo phương thức
thanh toán này nó đảm bảo quyền lợi cho người mua và người bán. Ở Việt Nam hiện
nay áp dụng chủ yếu phương thức này trong hợp đồng xuất – nhập khẩu.
3.1.5. Đơn vị tiền tệ sử dụng trong kinh doanh xuất – nhập khẩu
Trong thanh toán quốc tế, các bên phải sử dụng đơn vị tiền tệ của một nước
nào đó. Vì vậy, trong các hiệp định và hợp đồng đều có quy định điều kiện tiền
tệ dùng để thanh toán. Điều kiện tiền tệ cho biết việc sử dụng các loại tiền
nào để tính toán và thanh toán trong các hợp đồng ngoại thương, đồng thời quy định
cách xử lý khi giá trị đồng tiền đó biến động.
Tiền tệ tính toán là tiền tệ được dùng để xác định giá trị thanh toán
trong hợp đồng mua bán ngoại thương. Đồng thời tiền thanh toán thường là các
ngoại tệ chuyển đổi tự do. Trong nhiều trường hợp, đồng tiền thanh toán phù hợp
với nhau.
Việc sử dụng đồng tiền nào để thanh toán hợp đồng mua bán ngoại thương
phụ thuộc vào các yếu tố chủ yếu sau:
- Sự so sánh lực lượng của hai bên mua bán
- Vị trí của đồng tiền đó trên thị trường quốc tế
- Tập quan sử dụng đồng tiền thanh toán trên thế giới
- Đồng tiền thanh toán thống nhất
trong khu vực kinh tế trên thế giới
Trong kinh doanh xuất – nhập khẩu thường xuyên
phát sinh các giao dịch liên quan đến ngoại tệ. Việc hạch toán các giao dịch
liên quan đến ngoại tệ thực hiện theo nguyên tắc, quy định trong VAS 10; ảnh hưởng
bởi chênh lệch tỷ giá hối đoái; tuân thủ chế độ kế toán theo quyết định
15/2006/ QĐ-BTC ngày 20/3/2006 và thông tư hướng dẫn số 201/2009/TT-BTC ngày 15/10/2009
của Bộ tài chính cụ thể như sau:
v
Nguyên tắc quy đổi ngoại tệ
- Các giao dịch phát sinh có liên quan đến ngoại tệ phải
được quy đổi thành đơn vị tiền tệ kế toán (VNĐ) theo tỷ giá thực tế để ghi sổ kế
toán.
- Các TK phản ánh hàng hóa (151,156,611…), TK phản ánh
doanh thu (511, 515,711…), TK phản ảnh chi phí (611, 641,642…) luôn ghi theo tỷ
giá giao dịch thực tế.
- Bên Nợ các tài khoản tiền (111, 112,113) ghi theo tỷ
giá giao dịch thực tế, bên Có các TK tiền ghi theo tỷ giá thực tế xuất quỹ. Tỷ
giá thực tế xuất quỹ tính theo một trong các phương pháp: giá đích danh, nhập
trước xuất trước, nhập sau xuất trước, bình quân gia quyền.
- Bên nợ các TK phải thu (131, 138…) ghi theo tỷ giá
thực tế khi tính nợ phải thu, bên Có tính theo tỷ giá thực tế khi tính nợ (Tỷ
giá ghi sổ)
- Bên Có các TK phải trả (311,331,338…) ghi theo tỷ
giá thực tế khi nhận nợ, bên nợ ghi theo tỷ gía trước đây đã nhận nợ (tỷ giá
ghi sổ)
- Cuối năm tài chính phải đánh giá lại số dư tài khoản
tiền, công nợ có gốc là ngoại tệ theo tỷ giá thực tế tại thời điểm đánh giá lại.
v
Hạch toán chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh từ
các giao dịch liên quan đến ngoại tệ
- Đối
với các doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc vừa sản xuất kinh
doanh vừa có hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản: Lãi về tỷ giá tính vào doanh thu
hoạt động tài chính (Có TK 515), lỗ về tỷ giá tính vào chi phí tài chính (ghi Nợ
TK635).
- Đối với các doanh nghiệp đang trong quá trình đầu
tư xây dựng cơ bản chưa có hoạt động sản xuất kinh doanh (đang trong giai đoạn
tiền hoạt động): Lãi về tỷ giá ghi vào bên Có TK413, lỗ về tỷ giá ghi vào bên Nợ
TK413. Khi nào quá trình đầu tư kết thúc phân bổ chênh lệch tỷ giá hối đoái vào
doanh thu hoặc chi phí tài chính.
v Xử lý
chênh lêch tỷ giá hối đoái
- Đối với chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh do việc đánh giá lại số
dư cuối năm là: tiền mặt, tiền gửi, tiền đang chuyển, các khoản nợ ngắn hạn (1
năm trở xuống) có gốc ngoại tệ tại thời điểm lập báo cáo tài chính thì không hạch
toán vào chi phí hoặc thu nhập mà để số dư trên báo cáo tài chính, đầu năm sau
ghi ngược lại bút toán để xóa số dư.
- Đối với chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh do việc đánh giá lại số
dư cuối năm của các khoản nợ dài hạn (trên 1 năm) có gốc ngoại tệ tại thời điểm
lập báo cáo tài chính thì được xử lý như sau:
+ Đối với các khoản nợ phải thu dài hạn:
Đối với các khoản nợ phải thu bằng ngoại tệ, phải đánh giá lại số dư cuối
năm của các loại ngoại tệ, sau khi bù trừ, chênh lệch còn lại được xử lý như
sau:
·
Trường hợp chênh lệch tăng được hạch toán vào thu nhập tài chính trong
năm
·
Trường hợp chênh lệch giảm được hạch toán vào chi phí tài chính trong
năm.
+ Đối với các khoản nợ phải
trả dài hạn:
Đối với khoản nợ phải trả bằng
ngoại tệ, doanh nghiệp phải đánh giá lại số dư cuối năm của các loại ngoại tệ.
Sau khi bù trừ, chênh lệch còn lại được xử lý như sau:
·
Trường hợp
chênh lệch tỷ giá hối đoái thì chênh lệch tỷ giá hạch toán vào chi phí tài
chính trong năm và được tính vào chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh
nghiệp. Trường hợp hạch toán chênh lệch tỷ giá hối đoái vào chi phí làm cho kết
quả kinh doanh bị lỗ thì có thể phân bổ một phần chênh lệch tỷ giá cho năm sau
để không bị lỗ nhưng mức hạch toán vào chi phí trong năm ít nhất cũng phải bằng
chênh lệch tỷ giá còn lại sẽ được theo dõi và tiếp tục phân bổ vào chi phí cho
các năm sau nhưng tối đa không quá 5 năm.
·
Trường hợp
chênh lệch giảm thì được hạch toán vào thu nhập tài chính.
Kế
toán nhập khẩu hàng hóa là việc thu thập, xử lí, kiểm tra dưới hình thái tiền tệ
và hiện vật các giao dịch mua hàng hóa có nguồn gốc ở các quốc gia khác liên
quan đến hai chủ thể trong nước (bên mua) và nước ngoài (bên bán).
Hàng
hóa nhập khẩu chủ yếu là những mặt hàng trong nước chưa có hoặc chưa sản xuất
được, hoặc đã có nhưng không đủ để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cho xã hội về mặt
số lượng, chất lượng và thị hiếu…
a.
Các phương thức nhập khẩu: Có 2 phương thức nhập khẩu hàng hóa. Đó là:
-
Phương thức nhập khẩu trực tiếp: là phương thức đơn vị nhập khẩu trực tiếp đàm
phán, ký hợp đồng, trực tiếp giao nhận và thanh toán tiền hàng với người bán nước
ngoài.
-
Phương thức nhập khẩu ủy thác: là việc nhập khẩu thông qua một đơn vị khác. Xuất
hiện bên giao ủy thác và bên nhận ủy thác.
+
Bên giao ủy thác giữ vai trò người sử dụng dịch vụ.
+
Bên nhận ủy thác là người cung cấp dịch vụ và được hưởng hoa hồng theo hợp đồng
ủy thác đã ký.
b.Phạm vi và thời điểm ghi nhận hàng hóa nhập khẩu
v
Theo quy định,
những hàng hóa sau được gọi là hàng nhập khẩu:
-
Hàng mua của
nước ngoài dùng để phát triển kinh tế và thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước
theo hợp đồng mua bán ngoại thương.
-
Hàng đưa
vào Việt Nam
tham gia hội chợ, triển lãm, sau đó nước ta mua lại và thanh toán bằng tiền tệ.
-
Hàng tại
các khu chế xuất (phân chia thu nhập của bên đối tác không mang về nước) bán tại
thị trường Việt Nam ,
thu ngoại tệ.
v
Những hàng
hóa sau đây không được gọi là
hàng nhập khẩu:
v Hàng tạm nhập để tái xuất
v Hàng tạm xuất nay nhập về
v Hàng viện trợ nhân đạo
v Hàng đưa qua nước thứ ba (quá cảnh)
v
Thời điểm
ghi nhận hàng nhập khẩu là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu khi mà người nhập
khẩu nắm được quyền sở hữu về hàng hóa đó trả tiền hoặc có nghĩa vụ phải thanh
toán tiền cho người xuất khẩu. Thời điểm này phụ thuộc vào điều kiện giao hàng
và chuyên chở.
Ví
dụ: nếu nhập khẩu theo điều kiện CIF:
+ Vận
chuyển theo đường biển: thời điểm xác nhận hàng nhập khẩu tính từ ngày hải quan
cảng ký vào tờ khai hàng hóa nhập khẩu.
+ Vận
chuyển bằng đường hàng không: tính từ ngày hàng hóa được chuyển đến sân bay đầu
tiên của nước ta theo xác nhận của hải quan sân bay.
+ Vận
chuyển bằng đường sắt thì thời điểm ghi nhận hàng nhập khẩu là thời điểm hàng
được chuyển đến cửa khẩu có xác nhận của hải quan cửa khẩu.
|
Trị giá vốn thực tế của
hàng nhập khẩu
|
=
|
Trị giá mua phải trả
người xuất khẩu
|
+
|
Các khoản thuế không được
hoàn lại
|
-
|
Các khoản giảm giá hàng
mua
|
+
|
Chi phí trực tiếp phát
sinh trong nhập khẩu
|
Nội dung cụ
thể như sau:
- Nếu hàng
nhập khẩu thuộc đối tượng tính thuế GTGT, doanh nghiệp tính thuế GTGT theo
phương pháp khấu trừ thì giá trị mua của hàng nhập khẩu được xác định theo công
thức sau:
|
Trị giá
vốn thực tế của hàng nhập khẩu
|
=
|
Trị giá
mua phải thanh toán cho người xuất khẩu
|
+
|
Thuế
nhập khẩu phải nộp
|
-
|
Giảm
giá hàng NK được hưởng
|
+
|
Chi phí
trực tiếp phát sinh trong nhập khẩu
|
Trong
đó:
|
Trị giá mua phải thanh
toán cho người xuất khẩu
|
=
|
Trị giá ghi trên hóa đơn
thương mại
|
x
|
Tỷ giá thực tế ngoại tệ
|
Chi phí trực
tiếp phát sinh trong khâu nhập khẩu bao gồm lệ phí thanh toán, lệ phí chuyển
ngân, lệ phí sửa đổi L/C, phí thuê kho bến bãi, lưu kho…(nếu nhập khẩu theo điều
kiện FOB), phí vận tải ngoài nước phí bảo hiểm (đối với hàng nhập khẩu ủy thác)
hoa hồng trả cho bên ủy thác nhập khẩu.
- Nếu hàng
nhập khẩu thuộc đối tượng tính thuế GTGT doanh nghiệp tính thuế GTGT theo
phương pháp trực tiếp hoặc hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng tính thuế GTGT
nhưng hàng hóa nhập khẩu dùng vào hoạt động sự nghiệp, dự án, văn hóa phúc lợi…
được trang trải bằng các nguồn kinh phí khác thì giá trị mua của hàng nhập khẩu
được xác định theo công thức sau:
|
Trị giá
vốn thực tế của hàng nhập khẩu
|
=
|
Trị giá
mua phải trả người xuất khẩu
|
+
|
Thuế
nhập khẩu phải nộp
|
+
|
Thuế
GTGT của hàng NK
|
_
|
Giảm
giá hàng NK được hưởng
|
+
|
Chi phí
phát sinh trong nhập khẩu
|
Trong
đó:
|
Thuế GTGT của hàng NK
|
=
|
Trị giá hàng NK theo giá
CIF
|
+
|
Thuế NK phải nộp
|
x
|
Thuế suất thuế GTGT
|
Trường hợp
doanh nghiệp nhập khẩu những mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, trị giá hàng
hóa nhập khẩu bao gồm cả số thuế tiêu thụ đặc biệt
|
Trị giá
vốn thực tế của hàng nhập khẩu
|
=
|
Trị giá
mua phải trả người xuất khẩu
|
+
|
Thuế
nhập khẩu phải nộp
|
+
|
Thuế
TTĐB của hàng NK
|
_
|
Giảm
giá hàng NK được hưởng
|
+
|
Chi phí
phát sinh trong nhập khẩu
|
|
Thuế TTĐB của
hàng NK
|
=
|
Trị giá hàng NK theo giá
CIF
|
+
|
Thuế NK phải nộp
|
x
|
Thuế suất thuế TTĐB
|
Để hạch toán nghiệp vụ nhập khẩu hàng hóa, kế toán sử dụng các chứng từ
sau đây:
- Hóa đơn
thương mại;
- Vận tải
đơn (B/L) hoặc (B/A);
- Chưng từ
bảo hiểm;
- Giấy chứng
nhận phẩm chất do Vinacontrol cấp;
- Bảng kê
đóng gói bao bì;
- Giấy chứng
nhận xuất xứ hàng hóa.
Ngoài ra
theo chứng từ hợp đồng xuất- nhập khẩu và theo quy định trong thư tín dụng, bộ
chứng từ thanh toán còn có:
- Giấy chứng
nhận kiểm dịch đối với hàng hóa nông sản, thực phẩm;
- Các chứng
từ liên quan khác như: biên lai thu thuế, tờ khai hải quan, phiếu nhập kho, các
chứng từ thanh toán.
a.
Tài khoản sử dụng
v
TK156 – Hàng hóa
Bên
Nợ Bên Có
|
-
Giá vốn hàng hóa tăng trong kỳ
-
Kết chuyển trị giá vốn hàng hóa tồn kho cuối kỳ
|
-
Trị giá vốn hàng hóa giảm trong kỳ
- Kết chuyển trị giá vốn tồn kho đầu kỳ
|
|
Số dư bên Nợ: Trị giá vốn tồn kho cuối kỳ
|
|
TK 156 –
Hàng hóa có 3 tài khoản cấp 2
v
TK 1561 –
Giá mua hàng hóa
v
TK 1562 –
Chi phí thu mua hàng hóa
v
TK 1567 –
Hàng hóa bất động sản
v
TK 151 – Hàng hóa mua đang đi đường
Bên Nợ Bên Có
|
-
Trị giá vốn hàng mua trong kỳ nhưng cuối kỳ còn đang đi trên đường
-
Kết chuyển trị giá vốn hàng mua đang đi đường đến cuối kỳ
|
-
Trị giá hàng mua đang đi đường về nhập kho
-
Kết chuyển trị giá vốn hàng mua đang đi trên đường đầu kì.
|
|
Số dư
bên Nợ: Trị giá vốn hàng mua đang đi trên đường cuối kì
|
|
v
TK 611 – Mua hàng.
Tài khoản này chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp kế toán
hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kì. Kết cấu cơ bản của tài khoản này
là:
Bên Nợ Bên Có
|
- Kết chuyển trị giá
hàng hóa tồn kho, đang gửi bán, đang đi đường đầu kì
- Ghi trị giá hàng hóa
mua và nhập khác trong kì
|
- Ghi số tiền được chiết
khấu thương mại, giảm giá, trả lại hàng mua
- Kết chuyển trị giá vốn
hàng hóa tồn kho, đang gửi bán, mua đang đi đường cuối kì
- Kết chuyển trị giá vốn
hàng hóa xuất bán trong kì
|
|
Tài khoản này không có số dư
|
|
Tài khoản
611 có 2 tài khoản cấp 2:
v
TK 6111: Mua nguyên liệu, vật
liệu
v
TK 6112:
Mua hàng hóa
Ngoài ra, kế toán quá trình mua hàng hóa còn sử dụng
các tài khoản có liên quan như: TK 133, TK 331, TK 111, TK 112, TK 141, TK 144…
b.Trình tự kế toán nhập khẩu trực tiếp theo phương
pháp kê khai thường xuyên
1. Chuyển tiền ký quỹ mở L/C ở ngân hàng:
Nợ TK 144 – Cầm cố, ký cược,
ký quỹ ngắn hạn
Nợ TK 635 – Lỗ về tỷ giá
Có TK 111 (1112),
112 (1122)
Có TK 515 – Lãi về tỷ
giá
Đồng thời, ghi Có TK 007 – Nguyên tệ các loại
2. Trong kỳ, nhận được hàng hóa và bộ chứng từ mua hàng hóa nhập khẩu:
- Ghi giá trị hàng nhập khẩu, gửi bán thẳng:
Nợ TK 1561, 157
Nợ TK 632 – Tỷ giá thực tế
(bán trực tiếp)
Nợ TK 635 – Lỗ về tỷ giá
Có TK 144
Có TK 1112, 1122,
331
Có TK 515 – Lãi về tỷ
giá
Đồng thời, ghi Có TK 007 – Nguyên tệ các loại
v
Phản ánh
thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có):
Nợ TK
1561, 157, 632
Có
TK 3332, 3333
v
Ghi thuế
GTGT của hàng nhập khẩu:
+ Nếu doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu
trừ và hàng nhập khẩu dùng vào hoạt động kinh doanh chịu thuế GTGT theo phương
pháp khấu trừ:
Nợ TK
1331 – Thuế GTGT được khấu trừ
Có
TK 33312 – Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước
+ Nếu doanh nghiệp tính thuế theo phương pháp trực tiếp
hoặc hàng nhập khẩu dùng cho hoạt động kinh doanh không chịu thuế GTGT thì thuế
GTGT hàng nhập khẩu được tính vào trị giá vốn của hàng nhập khẩu:
Nợ TK
1561, 157, 632
Có
TK 33312 – Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước
v
Khi nộp
thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu:
Nợ TK
33312, 3332, 3333
Có
TK 111, 112
3. Trong kỳ nhận được chứng từ nhập khẩu nhưng cuối kỳ
hàng vẫn chưa về nhập kho
- Giá trị hàng mua đang đi đường:
Nợ TK
151 – Hàng mua đang đi trên đường (Tỷ giá thực tế)
Nợ TK
635 – Chi phí tài chính (Lỗ về tỷ giá)
Có
TK 144, 1112, 1122, Tỷ giá xuất quỹ
Có
TK 331 – Tỷ giá thực tế
Có
TK 515 – doanh thu tài chính (Lãi về tỷ giá)
Đồng thời ghi Có TK 007 – Nguyên tệ các loại
v
Thuế TTĐB,
thuế nhập khẩu phải nộp:
Nợ TK
151 – Hàng mua đang đi trên đường
Có
TK 3332, 3333
v
Thuế GTGT
của hàng nhập khẩu:
+ Nếu được khấu trừ:
Nợ TK
1331 – Thuế GTGT được khấu trừ
Có
TK 33312 – Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước
+ Nếu không được khấu trừ:
Nợ TK
151 – hàng mua đang đi trên đường
Có
TK 33312
v
Khi hàng
nhập khẩu về nhập kho, gửi bán hoặc bán trực tiếp
Nợ TK 1561, 157, 632
Có TK
151
v
Trường hợp
hàng thiếu, thừa xử lý như hàng trong nước
v
Các chi phí vận chuyển hàng hóa từ cảng về đến kho của doanh nghiệp phát
sinh:
Nợ TK
1562
Có
TK liên quan
c.
Trình tự kế
toán nghiệp vụ nhập khẩu trực tiếp theo phương pháp kiểm kê định kỳ
Kế toán nghiệp vụ nhập khẩu trực tiếp sử dụng tài khoản
611 – Mua hang (TK6112). Trình tự kế toán như sau:
v
Trong kỳ
nhận được bộ chứng từ nhập khẩu và phiếu nhập kho về hàng nhập khẩu, kế toán
ghi:
Nợ TK
611 – Mua hàng (TK6112)
Nợ TK
635 – Chi phí tài chính (Lỗ về tỷ giá)
Có
TK 144, 1112, 1122 (Tỷ giá thực tế xuất quỹ)
Có
TK 331
Có
TK 515 (lãi về tỷ giá)
Đồng thời, ghi Có TK 007
v
Ghi thuế
TTĐB (nếu có), thuế nhập khẩu phải nộp:
Nợ
TK 611- Mua hàng (TK6112)
Có
TK 3332, 3333
v
Thuế GTGT
của hàng nhập khẩu:
+ Nếu doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu
trừ và hàng nhập khẩu dùng vào hoạt động kinh doanh chịu thuế GTGT theo phương
pháp khấu trừ:
Nợ TK
1331 – Thuế GTGT được khấu trừ
Có
TK 3333
+ Nếu doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực
tiếp hoặc hàng nhập khẩu dùng cho hoạt động kinh doanh không chịu thuế GTGT thì
thuế GTGT được tính vào giá vốn của hàng nhập khẩu:
Nợ TK
611 – Mua hàng (TK6112)
Có
TK 3333
v
Hạch toán
hàng nhập khẩu còn đang đi đường
v
Đầu kỳ kết
chuyển hàng nhập khẩu còn đang đi trên đường
Nợ TK
611 – Mua hàng (TK6112)
Có
TK 151 – Hàng mua đang đi trên đường
v
Trong kỳ
nhận được bộ hóa đơn nhập khẩu nhưng cuối kỳ hàng vẫn chưa về nhập kho:
+ Ghi trị giá mua của hàng đang đi đường:
Nợ TK
611 – Mua hàng (TK6112) (Tỷ giá thực tế)
Nợ TK
635 – Chi phí tài chính (lỗ về tỷ giá)
Có TK 144,1112, 1122
Có
TK 331 – Tỷ giá thực tế
Có
TK 515 – Doanh thu tài chính (lãi về tỷ giá)
Đồng thời ghi Có TK 007
+ Ghi thuế TTĐB, thuế nhập khẩu phải nộp
Nợ TK
611 – Mua hang (TK6112)
Có
TK 3332, 3333
+ Thuế GTGT hàng nhập khẩu:
Nếu được khấu trừ ghi:
Nợ TK
1331
Có
TK 33312
Nếu không được khấu trừ ghi:
Nợ TK
611 (TK6112)
Có
TK 33312
v
Cuối kỳ kết
chuyển hàng mua đang đi đường cuối kỳ
Nợ TK
151 – Hàng mua đang đi đường
Có
TK 611 – Mua hang (TK6112)
v Để thực hiện việc nhập khẩu ủy thác, phải thực
hiện 2 hợp đồng:
+ Hợp
đồng ủy thác nhập khẩu được ký kết giữa bên giao nhập khẩu và bên nhận nhập khẩu,
trong đó có quy định các điều khoản có liên quan đến nghĩa vụ của mỗi bên tham
gia hợp đồng. Hợp đồng này chịu sự điều chỉnh của luật kinh doanh trong nước.
+ Hợp
đồng mua bán ngoại thương được thực hiện giữa bên nhận nhập khẩu ủy thác và bên
nước ngoài, trong đó có điều khoản quy định về nhập khẩu hàng hóa. Hợp đồng này
chịu sự điều chỉnh của luật kinh doanh trong nước, luật kinh doanh quốc tế và
luật của nước xuất khẩu.
v Bên giao ủy thác nhập khẩu (bên ủy thác) có
trách nhiệm:
+
Căn cứ hợp đồng ủy thác nhập khẩu để chuyển vốn cho bên nhận ủy thác nhập khẩu.
+
Quản lý số tiền giao cho bên nhận ủy thác nhập khẩu để nhập khẩu hàng hóa và nộp
các khoản thuế liên quan đến hàng nhập khẩu.
+ Tổ chức nhận hàng hóa nhập khẩu khi bên nhận nhập
báo hàng đã và đến cảng.
+
Thanh toán hoa hồng ủy thác nhập khẩu căn cứ vào tỷ lệ % hoa hồng đã quy định
trong điều khoản hợp đồng cùng các chi phí khác (nếu có).
v Bên nhận nhập khẩu ủy thác (bên nhận ủy thác) có
trách nhiệm:
+ Đứng
ra ký kết hợp đồng mua – bán ngoại thương
+
Nhận tiền của bên giao nhập khẩu để thanh toán với người xuất khẩu hàng hóa và
nộp các khoản thuế liên quan đến nhập khẩu.
+ Đứng
ra nhập khẩu hàng hóa, thanh toán và tham gia các khiếu nại tranh chấp xảy ra.
+
Phải trả tiền chi phí nếu trong điều khoản hợp đồng quy định người nhận ủy thác
nhập khẩu phải chịu.
+
Chịu trách nhiệm kê khai và nộp thuế nhập khẩu hàng hóa thuế giá trị gia tăng
hay thuế tiêu thụ đặc biệt của hàng hóa nhập khẩu theo từng lần nhập khẩu với
cơ quan hải quan.
+
Được hưởng hoa hồng (phí ủy thác) theo tỷ lệ % quy định trong điều khoản hợp đồng
ủy thác.
Theo
chế độ hiện hành, bên ủy thác nhập khẩu giao quyền nhập khẩu hàng hóa cho bên
nhận ủy thác trên cơ sở hợp đồng ủy thác nhập khẩu hàng hóa. Bên nhận ủy thác
nhập khẩu thực hiện dịch vụ nhận ủy thác nhập khẩu hàng hóa, chịu trách nhiệm
kê khai và nộp các loại thuế của hàng nhập khẩu và lưu giữ các chứng từ liên
quan đến lô hàng nhập khẩu như hợp đồng ủy thác nhập khẩu, hợp đồng nhập khẩu
hàng hóa ký với nước ngoài, hóa đơn thương mại do người bán (nước ngoài xuất),
tờ khai hàng hóa nhập khẩu và biên lại GTGT đối với hoa hồng ủy thác. Trong đó,
ghi rõ tổng giá thanh toán phải thu ở bên ủy thác, bao gồm giá mua (theo hóa
đơn thương mại); số thuế nhập khẩu, thuế TTĐB và thuế GTGT của hàng nhập khẩu
(theo thông báo thuế của cơ quan hải quan). Hóa đơn này dùng làm cơ sở tính thuế
đầu vào của bên giao ủy thác.
Trường
hợp bên nhận ủy thác chưa nộp thuế GTGT ở khâu nhập khẩu, khi xuất trả hàng nhận
ủy thác, bên nhận ủy thác nhập khẩu phải lập phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội
bộ kèm theo lệnh điều động nội bộ làm chứng từ lưu thông hàng hóa trên thị trường.
Sau khi đã nộp thuế GTGT ở khâu nhập khẩu, bên nhân ủy thác mới lập hóa đơn
GTGT giao cho bên ủy thác.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét