CHƯƠNG 4. KẾ TOÁN TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP KINH DOANH DỊCH VỤ
v
Du lịch và
dịch vụ là một trong những ngành kinh doanh chuyên cung cấp những lao vụ, dịch
vụ phục vụ nhu cầu sinh hoạt và đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân. Hoạt
động kinh doanh du lịch và dịch vụ có những đặc điểm chủ yếu sau:
-
Du lịch và dịch vụ là ngành kinh tế có hiệu quả cao, tỷ lệ lợi nhuận
trên vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn nhanh, song đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu
phải nhiều.
-
Hoạt động
kinh doanh du lịch mang tính thời vụ, phụ thuộc nhiều vào các điều kiện tự
nhiên, điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội; điều kiện di sản lịch sử văn hóa,
phong cảnh, chùa chiền độc đáo, hấp dẫn.
-
Đối tượng
phục vụ của ngành du lịch không ổn định và luôn biến động, rất phức tạp. Số lượng
khách du lịch cũng như số ngày lưu lại của khách luôn biến động. Trong cùng một
đợt nghỉ, nhu cầu của từng nhóm khách về ăn, ở, tham quan cũng rất khác nhau. Tổ
chức hoạt động du lịch khá phân tán và không ổn định.
-
Kinh doanh du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, liên quan tới nhiều mặt
khác nhau của đời sống xã hội (hoạt động xã hội, kinh tế, văn hóa, chính trị,
giao lưu quốc tế…). Điều này xuất phát từ các nhu cầu phong phú, đa dạng của du
khách; đồng thời cũng xuất phát từ tính an toàn và hiệu quả trong kinh doanh của
các doanh nghiệp. Do vậy, kinh doanh du lịch thường bao gồm nhiều ngành nghề
khác nhau như: kinh doanh lữ hành, kinh doanh lưu trú, kinh doanh nhà hàng,
kinh doanh vui – chơi – giải trí, kinh doanh vận chuyển, kinh doanh hàng hóa…
Các hoạt động này có quy trình công nghệ khác nhau, chi phí kinh doanh cũng
không giống nhau…
-
Sản phẩm của hoạt động du lịch và dịch vụ nói chung không có hình thái vật
chất, không có quá trình nhập, xuất kho, chất lượng sản phẩm nhiều khi không ổn
định.
-
Quá trình
sản xuất, tiêu thụ sản phẩm du lịch và dịch vụ được tiến hành đồng thời, ngay
cùng một thời điểm.
v
Dịch vụ là
ngành kinh tế có nhiều đặc điểm riêng có, khác biệt với các ngành sản xuất vật
chất khác. Những điểm đặc thù của ngành kinh doanh dịch vụ có ảnh hưởng mạnh mẽ
đến công tác nói chung và công tác kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh
doanh dịch vụ nói riêng. Cụ thể:
-
Một là: Kết
quả hoạt động cung cấp dịch vụ thuần túy thường không có hình thái hiện vật cụ
thể mà được thể hiện bằng lợi ích cho khách hàng thông qua việc thỏa mãn nhu cầu
của khách hàng như: nhu cầu thông tin, nhu cầu di chuyển, nhu cầu tri thức…
Đặc điểm
này dẫn đến thực tế là quá trình sản xuất, tiêu thụ và quản lý hoạt động kinh
doanh dịch vụ thường khó tách bạch một cách riêng biệt; mục đích cũng như quy
luật phát sinh và vận động của các khoản chi phí trong quá trình thực hiện dịch
vụ khó có thể được phân tích một cách rõ ràng.
-
Hai là: Hoạt động kinh doanh dịch vụ có sự đa dạng về phương thức thực
hiện.
Ví dụ:
ngành viễn thông có thể thực hiện loại hình viễn thông cố định, di động, cho
thuê kênh viễn thông nội địa và quốc tế
Ngành vận
tải có các phương thức như: vận tải thủy, vận tải đường bộ, đường không, đường
sắt…
Ngành du lịch
có các phương thức du lịch theo tuor trong nước, quốc tế, tour trọn gói hoặc từng
phần…
Chính sự đa dạng về phương thức thực hiện dịch vụ dẫn đến sự đa dạng về
đối tượng quản lý cũng như sự phức tạp trong tổ chức công tác kế toán nói
chung, đặc biệt là tổ chức kế toán chi phí, doanh thu và xác định kết quả kinh
doanh như: xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí, đối tượng ghi nhận doanh
thu và xác định kết quả có thể theo từng loại hình, từng phương thức và từng loại
hình kinh doanh dịch vụ.
-
Ba là: Về
mặt tổ chức quản lý kinh doanh, các doanh nghiệp dịch vụ thường thực hiện quản
lý hoạt động kinh doanh theo quy trình thực hiện dịch vụ hoặc theo từng đơn đặt
hàng. Đặc điểm này cũng dẫn đến sự đa dạng trong công tác kế toán chi phí,
doanh thu và kết quả kinh doanh.
-
Bốn là:
Các doanh nghiệp dịch vụ có nhiều phương thức phối hợp hỗ trợ nhau trong quá
trình kinh doanh như: liên doanh, liên kết…Các hình thức phối hợp này dẫn tới
những phức tạp trong công tác quản lý nói chung và công tác kế toán nói riêng
như: Kế toán chi phí, doanh thu trong các hình thức liên doanh “Hợp đồng hợp
tác kinh doanh dưới hình thức tài sản kinh doanh đồng kiểm soát”; “Hợp đồng hợp
tác kinh doanh dưới hình thức hoạt động kinh doanh đồng kiểm soát”.
4.1.2. Phân loại hoạt
động kinh doanh trong các doanh nghiệp du lịch
Là một
ngành kinh doanh mang tính tổng hợp cao, bao gồm nhiều ngành nghề khác nhau, hoạt
động hiện nay trong các doanh nghiệp kinh doanh du lịch và dịch vụ hết sức
phong phú. Tuy nhiên, các hoạt động đó có thể phân về các loại sau:
- Hoạt động
dịch vụ mang tính đơn thuần: Thuộc loại này bao gồm các hoạt động như hướng dẫn
du lịch, vận tải hàng hóa, du khách, kinh doanh khách sạn, nhà hàng, kinh doanh
lữ hành, kinh doanh các hoạt động vui chơi, giải trí…
- Hoạt động
mang tính kinh doanh hàng hóa: kinh doanh hàng hóa lưu niệm, kinh doanh các vật
phẩm phục vụ du khách.
- Hoạt động
mang tính sản xuất: hoạt động xây lắp, hoạt động sản xuất hàng lưu niệm, sản xuất
bánh kẹo, đồ uống, đồ hộp…
Tính chất
của các hoạt động trên đây không giống nhau. Do vậy, cách thức hạch toán cũng
hoàn toàn không giống nhau. Với các hoạt động kinh doanh hàng hóa, việc hạch
toán tương tự như các doanh nghiệp thương mại. Ngược lại, với các hoạt động
mang tính sản xuất, hạch toán lại giống doanh nghiệp sản xuất (công nghiệp, xây
dựng cơ bản…).
4.1.3.
Đặc điểm tổ chức kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh dịch vụ
v
Chi phí
kinh doanh trong du lịch bao gồm các khoản sau:
-
Chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp: là những chi phí vật liệu kinh doanh phát sinh liên
quan trực tiếp đến kinh doanh du lịch. Trong từng hoạt động kinh doanh, chi phí
vật liệu trực tiếp không giống nhau.
-
Chi phí
nhân công trực tiếp: bao gồm tiền công, tiền lương và phụ cấp lương phải trả
cùng các khoản trích cho các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công
đoàn, bảo hiểm thất nghiệp theo tỷ lệ với tiền lương phát sinh tính vào chi
phí.
-
Chi phí sản
xuất chung: là những chi phí còn lại chi ra trong phạm vi bộ phận kinh doanh
(buồng, bếp, bar, vận chuyển…)
Cũng giống
như các doanh nghiệp sản xuất, các khoản chi phí nói trên tạo thành chỉ tiêu
giá thành sản xuất thực tế của sản phẩm và dịch vụ du lịch. Bên cạnh đó, hoạt động
kinh doanh du lịch và dịch vụ khác còn phát sinh chi phí bán hàng và chi phí quản
lý doanh nghiệp. Đây là toàn bộ các khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra có liên
quan đến việc tiêu thụ hay tổ chức, quản lý, điều hành toàn bộ hoạt động của
công ty.
v
Xác định đối
tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất dịch vụ
Do tính chất đa dạng về loại hình dịch vụ và
phương thức thực hiện dịch vụ gắn với từng ngành dịch vụ cụ thể nên việc xác định
đối tượng kế toán chi phí sản xuất kinh doanh là khá phức tạp. Doanh nghiệp dịch
vụ phải căn cứ vào đặc thù về tổ chức quản lý, loại hình và phương thức thực hiện
dịch vụ để xác định đối tượng tập hợp chi phí, làm cơ sở tổ chức kế toán chi
phí, đáp ứng yêu cầu tính giá thành, kiểm soát và quản lý chi phí một cách có
hiệu quả. Thông thường các doanh nghiệp dịch vụ có thể xác định đối tượng tập hợp
chi phí sản xuất kinh doanh là:
-
Toàn bộ
quy trình thực hiện các loại hình hoặc một loại hình dịch vụ, hoặc
-
Từng bộ phận
(tổ, đội, trung tâm) thực hiện dịch vụ, hoặc
-
Từng đơn đặt
hàng, hợp đồng kinh tế ký với khách hang, hoặc
-
Từng khâu
trong quy trình thực hiện dịch vụ…
v
Vận dụng
phương pháp tập hợp chi phí sản xuất dịch vụ
Tùy theo mối quan hệ giữa các chi phí sản xuất với
các đối tượng tập hợp chi phí đã xác định, kế toán áp dụng phương pháp trực tiếp
hoặc phân bổ gián tiếp để tập hợp chi phí theo các hệ thống tập hợp chi phí kế
toán khác nhau.
-
Phương
pháp tập hợp trực tiếp
-
Phương
pháp phân bổ gián tiếp
Mục tiêu của
việc phân bổ chi phí gián tiếp là để tính toán, quy nạp đầy đủ chi phí sản xuất
cho các đối tượng chịu chi phí làm cơ sở cho việc kiểm soát chi phí, tính giá
thành dịch vụ. Mức độ chính xác của kết quả phân bổ phụ thuộc vào sự phù hợp của
tiêu chuẩn phân bổ được lựa chọn. Về nguyên tắc, tiêu chuẩn phân bổ thích hợp
phải phản ánh được quy luật phát sinh và vận động của chi phí. Tùy theo đặc điểm,
tính chất của khoản chi phí cần phân bổ mà xác định và lựa chọn tiêu chuẩn phân
bổ phù hợp. Trong các doanh nghiệp dịch vụ, các tiêu thức thường được lựa chọn
để phân bổ các chi phí cho các đối tượng chịu chi phí gồm: chi phí trực tiếp,
doanh thu hoặc sản lượng dịch vụ được quy đổi… Để lựa chọn tiêu thức phân bổ, cần
vận dụng nguyên tắc kế toán, như nguyên tắc trọng yếu, phù hợp, giá gốc, kỳ kế
toán...
v
Tổ chức tập
hợp chi phí sản xuất dịch vụ theo các khoản mục chi phí
Theo góc độ kế toán tài chính, chi phí sản xuất
kinh doanh dịch vụ được kế toán tập hợp theo các khoản mục chi phí để phục vụ
cho công tác quản lý chi phí, tính giá thành và giá vốn của dịch vụ hoàn thành
cung cấp cho khách hàng. Kế toán sử dụng các tài khoản theo quy định của hệ thống
tài khoản thống nhất gồm:
-
Tài khoản
621 – chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
-
Tài khoản
622 – chi phí nhân công trực tiếp
-
Tài khoản
627 – chi phí sản xuất chung
-
Tài khoản
154 – chi phí sản xuất kinh doanh dỡ dang
-
Tài khoản
631 – giá thành sản xuất (phương pháp KKĐK)
Các doanh nghiệp dịch vụ vận dụng các tài khoản
thống nhất theo quy định về nội dung, kết cấu. Mặt khác, doanh nghiệp dịch vụ mở
các tài khoản chi tiết theo yêu cầu quản lý để tập hợp chi phí theo từng đối tượng,
phục vụ công tác quản lý và kiểm soát chi phí nội bộ đơn vị.
v
Tổ chức kế
toán tập hợp chi phí sản xuất của các hoạt động phụ trợ trong doanh nghiệp dịch
vụ
Trong các
doanh nghiệp dịch vụ có thể tổ chức các bộ phận phụ trợ hoạt động phục vụ cho
các hoạt động sản xuất kinh doanh chính. Xét về phương diện kế toán, các bộ phận
sản xuất phụ trợ thường được xác định là đối tượng tập hợp chi phí và tính giá
thành riêng. Chi phí của bộ phận phụ trợ phải được phân bổ theo mục đích sử dụng,
trong đó chủ yếu tính vào hoạt động chính của doanh nghiệp dịch vụ. Quy trình tập
hợp chi phí và phân bổ chi phí sản xuất phụ trợ có thể được khái quát thành các
bước như sau:
-
Bước 1:
doanh nghiệp dịch vụ xác định đối tượng và phạm vi tập hợp chi phí sản xuất cho
các bộ phận sản xuất phụ trợ.
-
Bước 2: Tổ
chức tập hợp chi phí sản xuất cho các hoạt động phụ trợ theo khoản mục chi phí
theo các tài khoản chi tiết, các sổ kế toán chi tiết chi phí mở cho các bộ phận
sản xuất phụ trợ đã xác định.
-
Bước 3: Tổng
hợp chi phí, xác định tổng giá thành sản xuất và giá thành sản xuất phụ trợ. Để
xác định giá thành sản xuất của bộ phận phụ trợ cần xem xét trường hợp các bộ
phận phụ trợ có cung cấp lao vụ lẫn nhau. Trong trường hợp này, kế toán thường
áp dụng các phương pháp để xác định giá thành sản xuất của các bộ phận phụ trợ
gồm:
+ Phương
pháp đại số
+ Phương
pháp sử dụng giá thành đơn vị kế hoạch
+ Phương
pháp sử dụng chi phí đơn vị ban đầu
-
Bước 4:
Phân bổ giá thành sản xuất của hoạt động phụ trợ cho từng đối tượng tập hợp chi
phí của hoạt động chính và cho các mục đích khác căn cứ vào khối lượng thực tế
thực hiện và giá thành đơn vị.
Chi phí của bộ phận sản xuất phụ trợ
tính cho đối tượng chi phí của hoạt động chính
|
=
|
Giá thành đơn vị của hoạt động sản xuất
phụ trợ
|
x
|
Mức độ sử dụng dịch vụ sản xuất phụ trợ
của đối tượng chi phí của hoạt động chính
|
v
Tổ chức tổng hợp chi phí sản
xuất, tính giá thành dịch vụ
Tùy theo loại hình và
phương thức tổ chức sản xuất kinh doanh dịch vụ mà doanh nghiệp dịch vụ có thể
áp dụng hệ thống tập hợp chi phí và tính giá thành dịch vụ theo công việc hoặc
hệ thống tập hợp chi phí, tính giá thành dịch vụ theo quá trình
- Hệ thống tập hợp chi phí và tính giá thành dịch vụ theo công việc áp dụng
trong trường hợp đối tượng quản lý, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất kinh
doanh dịch vụ là từng đơn đặt hàng, từng hợp đồng với khách hàng. Theo đó, chi
phí sản xuất được tập hợp theo đơn hàng làm cơ sở cho việc xác định chi phí sản
xuất dở dang và tính giá thành khối lượng dịch vụ đã thực hiện hoàn thành, được
xác định là đã cung cấp cho khách hàng.
- Hệ thống tập hợp chi phí và tính giá thành dịch vụ theo quá trình được
áp dụng trong trường hợp hoạt động cung cấp dịch vụ có tính chất hàng loạt theo
một quy trình nhất định. Đối tượng tập hợp chi phí là toàn bộ hoặc từng khâu của
quy trình công nghệ, từng bộ phận thực hiện dịch vụ. Phương pháp tính giá thành
thường được áp dụng trong các doanh nghiệp dịch vụ là phương pháp giản đơn hoặc
phương pháp tỷ lệ, phương pháp hệ số tùy theo mối quan hệ giữa đối tượng tập hợp
chi phí và đối tượng tính giá thành dịch vụ.
v
Kế toán chi phí ngoài sản
xuất trong doanh nghiệp dịch vụ
Chi phí ngoài sản xuất trong các doanh nghiệp
dịch vụ tương tự như các doanh nghiệp khác gồm: chi phí bán hàng, chi phí quản
lý doanh nghiệp, chi phí tài chính và các chi phí khác. Phương pháp kế toán tập
hợp các khoản chi phí này cơ bản không có sự khác biệt lớn giữa các doanh nghiệp
dịch vụ với các doanh nghiệp khác. Do vậy, phạm vi bài giảng này trình bày
không đề cập cụ thể đến các khoản chi phí này.
v
Doanh thu, các khoản giảm
trừ doanh thu cung cấp dịch vụ
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 – Doanh
thu và thu nhập khác “ Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp
thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông
thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu”
Doanh thu cung cấp dịch vụ được ghi nhận phải
tuân thủ các quy định sau:
1.
Doanh thu cung cấp dịch vụ
chỉ được ghi nhận khi kết quả của giao dịch về cung cấp dịch vụ đó được xác định
một cách đáng tin cậy. Trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ liên quan đến
nhiều kỳ thì doanh thu được ghi nhận trong kỳ theo kết quả phần công việc đã
hoàn thành vào ngày lập Bảng cân đối kế toán của kỳ đó. Kết quả của giao dịch
cung cấp dịch vụ được xác định một cách đáng tin cậy khi thỏa mãn tất cả bốn
(4) điều kiện sau:
- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;
- Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ đó;
-
Xác định
được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng cân đối kế toán;
- Xác định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành
giao dịch cung cấp dịch vụ đó.
Trường hợp
kết quả của giao dịch cung cấp dịch vụ không thể xác định được một cách chắc chắn
thì doanh thu được ghi nhận tương ứng với chi phí được ghi nhận có thể thu hồi.
2.
Doanh thu và chi phí liên
quan đến giao dịch cung cấp dịch vụ phải được ghi nhận theo nguyên tắc phù hợp
trong phạm vi năm tài chính.
3.
Trường hợp trao đổi dịch vụ
lấy dịch vụ tương tự về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó không được coi
là một giao dịch tạo ra doanh thu và không được tạo ra doanh thu.
4.
Doanh thu được ghi nhận
theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu trong tương lai, cụ thể:
- Đối với doanh nghiệp dịch vụ tính và nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu
trừ, doanh thu dịch vụ vận tải được ghi nhận theo giá dịch vụ cung cấp không
bao gồm thuế GTGT.
- Đối với doanh nghiệp dịch vụ tính và nộp thuế GTGT theo phương pháp trực
tiếp thì doanh thu được ghi nhận theo tổng giá thanh toán.
- Trường hợp dịch vụ được xác định là xuất khẩu, chịu thuế xuất khẩu thì
doanh thu được ghi nhận theo tổng giá cước bao gồm cả thuế xuất khẩu.
- Trường hợp hợp đồng cung cấp dịch vụ được thực hiện qua nhiều kỳ kế toán
thì doanh thu dịch vụ được ghi nhận theo phương pháp tỷ lệ hoàn thành. Để xác định
phần công việc đã hoàn thành, làm cơ sở xác định doanh thu ghi nhận trong kỳ,
doanh nghiệp dịch vụ có thể áp dụng các phương pháp sau:
Ø
Đánh giá phần công việc đã
hoàn thành;
Ø
So sánh tỉ lệ (%) giữa khối
lượng công việc đã hoàn thành với tồng khối lượng công việc phải hoàn thành;
Ø
Tỷ lệ (%) chi phí đã phát
sinh so với tổng chi phisuwowcs tính đẻ hoàn thành toàn bộ dao dịch cung cấp dịch
vụ.
5.
Doanh thu dịch vụ được theo
dõi chi tiết theo từng loại doanh thu phục vụ cho việc quản lí doanh thu xác định
kết quả kinh doanh theo yêu cầu quản lí hoạt động kinh doanh của đơn vị.
Các khoản
giàm trừ doanh thu theo quy định hiện hành của chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14
– Doanh thu và thu nhạp khác bao gồm:
- Chiết khấu thương mại: Là khoản mà doanh nghiệp bán giảm trư cho người
mua trên giá niêm yết dô khách hành mua với khối lượng lớn.
- Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua hàng do hàng kém phẩm
chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.
- Giá trị hàng bán bị trả lại: là giá trị khối lượng hàng đã bán, dịch vụ
được cung cấp bị khách hàng trả lại, không nghiệm thu, từ chối thanh toán.
Kết quả
kinh doanh dịch vụ được xác định trên cơ sở so sánh doanh thu va chi phí liên
quan đến hoạt động kinh doanh dịch vụ, được biểu hiện bang số tiền lãi họa lỗ
trong một kỳ. Kết quả kinh doanh dịch vụ được xác định và phân phối theo trình
tự dược quy định. Đồng thời, kết quả kinh doanh dịch vụ được xác định chi tiết
theo từng loại hình dịch vụ hoặc từng bộ phận thực hiện dịch vụ đáp ứng theo
yêu cầu quản lí chi tiết của đơn vị.
Kế toán
các doanh nghiệp dịch vụ vận dụng hệ thống chứng từ va tài khoản kế toán thống
nhất để phản ánh và ghi nhận doanh thu, các khoản giảm trừ doanh thu dịch vụ. Các tài khoản kế toán được sử dụng gồm:
-
Tài khoản
511 – Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ;
-
Tài khoản
512 – Doanh thu bán hàng nội bộ
-
Tài khoản
3387 – Doanh thu chưa thực hiên;
-
Tài khoản
521 – Chiết khấu thương mại;
-
Tài khoản
531 – Hàng hóa bị trả lại;
-
Tài khoản
532 – Giảm giá bán hàng;
-
Tài khoản
821 – Chi phí thuế TNDN;
-
Tài khoản
991 – Xác định kết quả kinh doanh.
Các tài
khoản này được mở chi tiết theo quy định và theo yêu cầu quản lý doanh thu và
cac khoản giảm trừ doanh thu của đơn vị.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét