Hình thức kế toán là hệ thống tổ chức sổ kế
toán bao gồm số lượng sổ, kết cấu mẫu sổ, mối quan hệ giữa các loại sổ được sử
dụng để ghi chép, hệ thống hóa số liệu chứng từ gốc theo một trình tự và phương
pháp ghi sổ nhất định, nhằm cung cấp các tài liệu có liên quan đến các chỉ tiêu
kinh tế tài chính, phục vụ việc thiết lập các báo cáo kế toán.
Các hình thức sổ kế toán quy định áp dụng: Doanh nghiệp
được áp dụng một trong năm hình thức kế toán sau:
- Hình thức kế toán Nhật ký chung;
- Hình thức kế toán Nhật ký - Sổ Cái;
- Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ;
- Hình thức kế toán Nhật ký- Chứng từ;
- Hình thức kế toán trên máy vi tính.
Trong mỗi hình thức sổ kế toán có những quy định cụ thể về số lượng, kết
cấu, mẫu sổ, trình tự, phương pháp ghi chép và mối quan hệ giữa các sổ kế toán.
Doanh nghiệp phải căn cứ vào quy mô, đặc điểm hoạt động sản xuất, kinh
doanh, yêu cầu quản lý, trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán, điều kiện trang
bị kỹ thuật tính toán, lựa chọn một hình thức kế toán phù hợp và phải tuân thủ
theo đúng quy định của hình thức sổ kế toán đó, gồm: Các loại sổ và kết cấu các
loại sổ, quan hệ đối chiếu kiểm tra, trình tự, phương pháp ghi chép các loại sổ
kế toán.
v Hình thức kế toán Nhật ký chung
Ø Nguyên tắc, đặc trưng cơ bản của
hình thức kế toán Nhật ký chung
Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán Nhật ký chung: Tất cả các nghiệp
vụ kinh tế, tài chính phát sinh đều phải được ghi vào sổ Nhật ký, mà trọng tâm
là sổ Nhật ký chung, theo trình tự thời gian phát sinh và theo nội dung kinh tế
(định khoản kế toán) của nghiệp vụ đó. Sau đó lấy số liệu trên các sổ Nhật ký để
ghi Sổ Cái theo từng nghiệp vụ phát sinh.
Hình thức kế toán Nhật
ký chung gồm các loại sổ chủ yếu sau:
-
Sổ Nhật ký chung, Sổ Nhật ký đặc biệt;
- Sổ Cái;
- Các sổ, thẻ kế toán chi tiết.
Ø
Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán Nhật ký
chung (Biểu số 01)
(1) Hàng ngày, căn cứ vào các chứng từ đã kiểm tra được dùng làm căn cứ
ghi sổ, trước hết ghi nghiệp vụ phát sinh vào sổ Nhật ký chung, sau đó căn cứ số
liệu đã ghi trên sổ Nhật ký chung để ghi vào Sổ Cái theo các tài khoản kế toán
phù hợp. Nếu đơn vị có mở sổ, thẻ kế toán chi tiết thì đồng thời với việc ghi sổ
Nhật ký chung, các nghiệp vụ phát sinh được ghi vào các sổ, thẻ kế toán chi tiết
liên quan.
Trường
hợp đơn vị mở các sổ Nhật ký đặc biệt thì hàng ngày, căn cứ vào các chứng từ được
dùng làm căn cứ ghi sổ, ghi nghiệp vụ phát sinh vào sổ Nhật ký đặc biệt liên
quan. Định kỳ (3, 5, 10... ngày) hoặc cuối tháng, tuỳ khối
lượng nghiệp vụ phát sinh, tổng hợp từng sổ Nhật ký đặc biệt, lấy số liệu để
ghi vào các tài khoản phù hợp trên Sổ Cái, sau khi đã loại trừ số trùng lặp do
một nghiệp vụ được ghi đồng thời vào nhiều sổ Nhật ký đặc biệt (nếu có).
(2)
Cuối tháng, cuối quý, cuối năm, cộng số liệu trên Sổ Cái, lập Bảng cân đối số
phát sinh.
Sau
khi đã kiểm tra đối chiếu khớp đúng, số liệu ghi trên Sổ Cái và bảng tổng hợp
chi tiết (được lập từ các Sổ, thẻ kế toán chi tiết) được dùng để lập các Báo
cáo tài chính.
Về
nguyên tắc, Tổng số phát sinh Nợ và Tổng số phát sinh Có trên Bảng cân đối số
phát sinh phải bằng Tổng số phát sinh Nợ và Tổng số phát sinh Có trên sổ Nhật
ký chung (hoặc sổ Nhật ký chung và các sổ Nhật ký đặc biệt sau khi đã loại trừ
số trùng lặp trên các sổ Nhật ký đặc biệt) cùng kỳ.
Biểu số 01
TRÌNH TỰ GHI SỔ KẾ TOÁN
THEO HÌNH THỨC KẾ TOÁN NHẬT KÝ CHUNG
Ghi chú:
Ghi
hàng ngày
Ghi
cuối tháng, hoặc định kỳ
v Hình thức kế toán Nhật ký - Sổ Cái
Ø Đặc trưng cơ bản của hình thức kế
toán Nhật ký - Sổ Cái
Đặc trưng cơ bản của
hình thức kế toán Nhật ký - Sổ Cái: Các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh
được kết hợp ghi chép theo trình tự thời gian và theo nội dung kinh tế (theo
tài khoản kế toán) trên cùng một quyển sổ kế toán tổng hợp duy nhất là sổ Nhật
ký - Sổ Cái. Căn cứ để ghi vào sổ Nhật ký - Sổ Cái là các chứng từ kế toán hoặc
Bảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại.
Hình
thức kế toán Nhật ký - Sổ Cái gồm có các loại sổ kế toán
sau:
- Nhật ký - Sổ Cái;
- Các Sổ, Thẻ kế toán
chi tiết.
Ø
Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán Nhật ký - Sổ Cái (Biểu số
02)
(1) Hàng ngày, kế toán
căn cứ vào các chứng từ kế toán hoặc Bảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại
đã được kiểm tra và được dùng làm căn cứ ghi sổ, trước hết xác định tài khoản
ghi Nợ, tài khoản ghi Có để ghi vào Sổ Nhật ký – Sổ Cái. Số liệu của mỗi chứng
từ (hoặc Bảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại) được ghi trên một dòng ở cả
2 phần Nhật ký và phần Sổ Cái. Bảng tổng hợp chứng từ kế toán được lập cho
những chứng từ cùng loại (Phiếu thu, phiếu chi, phiếu xuất, phiếu nhập,…) phát
sinh nhiều lần trong một ngày hoặc định kỳ 1 đến 3 ngày.
Chứng từ kế toán và Bảng tổng hợp chứng từ kế toán
cùng loại sau khi đã ghi Sổ Nhật ký - Sổ Cái, được dùng để ghi vào Sổ, Thẻ kế
toán chi tiết có liên quan.
(2) Cuối tháng, sau khi đã phản ánh toàn bộ chứng từ
kế toán phát sinh trong tháng vào Sổ Nhật ký - Sổ Cái và các sổ, thẻ kế toán
chi tiết, kế toán tiến hành cộng số liệu của cột số phát sinh ở phần Nhật ký và
các cột Nợ, cột Có của từng tài khoản ở phần Sổ Cái để ghi vào dòng cộng phát
sinh cuối tháng. Căn cứ vào số phát sinh các tháng trước và số phát sinh tháng
này tính ra số phát sinh luỹ kế từ đầu quý đến cuối tháng này. Căn cứ vào số dư
đầu tháng (đầu quý) và số phát sinh trong tháng kế toán tính ra số dư cuối
tháng (cuối quý) của từng tài khoản trên Nhật ký - Sổ Cái.
(3) Khi kiểm tra, đối chiếu số cộng cuối tháng (cuối
quý) trong Sổ Nhật ký - Sổ Cái phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Tổng số tiền của cột
|
Tổng số phát sinh
|
Tổng số phát sinh
|
||||
“Phát sinh” ở phần
|
=
|
Nợ của tất cả các
|
=
|
Có của tất cả các
|
||
Nhật ký
|
Tài khoản
|
Tài khoản
|
||||
Tổng số dư Nợ các Tài khoản
|
=
|
Tổng số dư Có các tài khoản
|
||||
(4) Các sổ, thẻ kế toán chi tiết cũng phải được khoá
sổ để cộng số phát sinh Nợ, số phát sinh Có và tính ra số dư cuối tháng của
từng đối tượng. Căn cứ vào số liệu khoá sổ của các đối tượng lập “Bảng tổng hợp
chi tiết" cho từng tài khoản. Số liệu trên “Bảng tổng hợp chi tiết” được
đối chiếu với số phát sinh Nợ, số phát sinh Có và Số dư cuối tháng của từng tài
khoản trên Sổ Nhật ký - Sổ Cái.
Số liệu trên Nhật ký - Sổ Cái và trên “Bảng tổng hợp
chi tiết” sau khi khóa sổ được kiểm tra, đối chiếu nếu khớp, đúng sẽ được sử
dụng để lập báo cáo tài chính.
Biểu số 02
TRÌNH TỰ GHI SỔ KẾ TOÁN
THEO HÌNH THỨC KẾ TOÁN NHẬT KÝ - SỔ CÁI
![]() |
Ghi chú:
v Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ
Ø Đặc trưng cơ bản của hình thức kế
toán Chứng từ ghi sổ
Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ: Căn
cứ trực tiếp để ghi sổ kế toán tổng hợp là “Chứng từ ghi
sổ”. Việc ghi sổ kế toán tổng hợp bao gồm:
+ Ghi theo trình tự thời gian trên Sổ Đăng ký Chứng từ
ghi sổ.
+ Ghi theo nội dung kinh tế trên Sổ Cái.
Chứng từ ghi sổ do kế toán lập trên cơ sở từng chứng từ kế
toán hoặc Bảng Tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại, có cùng nội dung kinh tế.
Chứng từ ghi sổ được đánh số hiệu liên tục trong từng
tháng hoặc cả năm (theo số thứ tự trong Sổ Đăng ký Chứng từ ghi sổ) và có chứng
từ kế toán đính kèm, phải được kế toán trưởng duyệt trước khi ghi sổ kế toán.
Hình
thức kế toán Chứng từ ghi sổ gồm có các loại sổ kế toán sau:
- Chứng từ ghi sổ;
- Sổ Đăng ký Chứng từ ghi sổ;
- Sổ Cái;
- Các Sổ, Thẻ kế toán chi tiết.
Ø
Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán Chứng từ
ghi sổ (Biểu số 03)
(1)- Hàng ngày, căn cứ vào các chứng từ kế toán hoặc Bảng
Tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại đã được kiểm tra, được dùng làm căn cứ ghi
sổ, kế toán lập Chứng từ ghi sổ. Căn cứ vào Chứng từ ghi sổ để ghi vào sổ Đăng
ký Chứng từ ghi sổ, sau đó được dùng để ghi vào Sổ Cái. Các chứng từ kế toán
sau khi làm căn cứ lập Chứng từ ghi sổ được dùng để ghi vào Sổ, Thẻ kế toán chi
tiết có liên quan.
(2)- Cuối tháng, phải khoá sổ tính ra
tổng số tiền của các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh trong tháng trên sổ
Đăng ký Chứng từ ghi sổ, tính ra Tổng số phát sinh Nợ, Tổng số phát sinh Có và
Số dư của từng tài khoản trên Sổ Cái. Căn cứ vào Sổ Cái lập Bảng Cân đối số
phát sinh.
(3)- Sau khi đối chiếu khớp đúng, số liệu ghi trên Sổ Cái
và Bảng tổng hợp chi tiết (được lập từ các sổ, thẻ kế toán chi tiết) được dùng
để lập Báo cáo tài chính.
Quan hệ đối chiếu, kiểm tra phải đảm
bảo Tổng số phát sinh Nợ và Tổng số phát sinh Có của tất cả các tài khoản trên
Bảng Cân đối số phát sinh phải bằng nhau và bằng Tổng số tiền phát sinh trên sổ
Đăng ký Chứng từ ghi sổ. Tổng số dư Nợ và Tổng số dư Có của các tài khoản trên
Bảng Cân đối số phát sinh phải bằng nhau, và số dư của từng tài khoản trên Bảng
Cân đối số phát sinh phải bằng số dư của từng tài khoản tương ứng trên Bảng tổng
hợp chi tiết.
Biểu số 03
TRÌNH TỰ GHI SỔ KẾ TOÁN THEO HÌNH THỨC KẾ
TOÁN
CHỨNG TỪ GHI SỔ
Ghi chú:
v Hình thức sổ kế toán Nhật ký -
Chứng từ
Ø Đặc trưng cơ bản của hình thức kế
toán Nhật ký-Chứng từ (NKCT)
-
Tập hợp và hệ thống hoá các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
theo bên Có của các tài khoản kết hợp với việc phân tích các nghiệp vụ kinh tế
đó theo các tài khoản đối ứng Nợ.
-
Kết hợp chặt chẽ việc ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo trình tự
thời gian với việc hệ thống hoá các nghiệp vụ theo nội dung
kinh tế (theo tài khoản).
- Kết hợp rộng rãi việc hạch toán tổng hợp với hạch toán
chi tiết trên cùng một sổ kế toán và trong cùng một quá trình ghi chép.
- Sử dụng các mẫu sổ in sẵn các quan hệ đối ứng tài khoản,
chỉ tiêu quản lý kinh tế, tài chính và lập báo cáo tài chính.
Hình
thức kế toán Nhật ký – Chứng từ gồm có các loại sổ kế toán sau:
- Nhật ký chứng từ;
- Bảng kê;
- Sổ Cái;
- Sổ hoặc thẻ kế toán
chi tiết.
Ø Trình tự ghi
sổ kế toán theo hình thức kế toán Nhật ký - Chứng từ (Biểu 04)
(1). Hàng ngày căn cứ vào các chứng từ kế toán đã được kiểm
tra lấy số liệu ghi trực tiếp vào các Nhật ký - Chứng từ hoặc Bảng kê, sổ chi
tiết có liên quan.
Đối với các loại chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh
nhiều lần hoặc mang tính chất phân bổ, các chứng từ gốc trước hết được tập hợp
và phân loại trong các bảng phân bổ, sau đó lấy số liệu kết quả của bảng phân bổ
ghi vào các Bảng kê và Nhật ký - Chứng từ có liên quan.
Đối với các Nhật ký - Chứng từ được ghi căn cứ vào các Bảng
kê, sổ chi tiết thì căn cứ vào số liệu tổng cộng của bảng kê, sổ chi tiết, cuối
tháng chuyển số liệu vào Nhật ký - Chứng từ.
(2). Cuối tháng khoá sổ, cộng số liệu
trên các Nhật ký - Chứng từ, kiểm tra, đối chiếu số liệu trên các Nhật ký - Chứng
từ với các sổ, thẻ kế toán chi tiết, bảng tổng hợp chi tiết có liên quan và lấy
số liệu tổng cộng của các Nhật ký - Chứng từ ghi trực tiếp vào Sổ Cái.
Đối với các chứng từ có liên quan đến các sổ, thẻ kế toán
chi tiết thì được ghi trực tiếp vào các sổ, thẻ có liên quan. Cuối tháng, cộng
các sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết và căn cứ vào sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết để
lập các Bảng tổng hợp chi tiết theo từng tài khoản để đối chiếu với Sổ Cái.
Số liệu tổng cộng ở Sổ Cái và một số chỉ tiêu chi tiết
trong Nhật ký - Chứng từ, Bảng kê và các Bảng tổng hợp chi tiết được dùng để lập
báo cáo tài chính.
Biểu số 04
TRÌNH TỰ GHI SỔ KẾ TOÁN THEO HÌNH THỨC KẾ
TOÁN
NHẬT KÝ - CHỨNG TỪ
![]() |
Ghi chú:
v
Hình thức kế
toán trên máy vi tính
Ø
Đặc trưng cơ
bản của Hình thức kế toán trên máy vi tính
Đặc trưng cơ bản của Hình thức kế toán trên máy vi
tính là công việc kế toán được thực hiện theo một chương trình phần mềm kế toán
trên máy vi tính. Phần mềm kế toán được thiết kế theo nguyên tắc của một trong
bốn hình thức kế toán hoặc kết hợp các hình thức kế toán quy định trên đây.
Phần mềm kế toán không hiển thị đầy đủ quy trình ghi sổ kế toán, nhưng phải in
được đầy đủ sổ kế toán và báo cáo tài chính theo quy định.
Các
loại sổ của Hình thức kế toán trên máy vi tính:
Phần mềm kế toán được thiết kế theo Hình thức kế
toán nào sẽ có các loại sổ của hình thức kế toán đó nhưng không hoàn toàn giống
mẫu sổ kế toán ghi bằng tay.
Ø
Trình tự ghi sổ
kế toán theo Hình thức kế toán trên máy vi tính (Biểu số 05)
(1) Hàng ngày, kế toán căn cứ vào chứng từ kế toán
hoặc Bảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại đã được kiểm tra, được dùng làm
căn cứ ghi sổ, xác định tài khoản ghi Nợ, tài khoản ghi Có để nhập dữ liệu vào
máy vi tính theo các bảng, biểu được thiết kế sẵn trên phần mềm kế toán.
Theo quy trình của phần mềm kế toán, các thông tin
được tự động nhập vào sổ kế toán tổng hợp (Sổ Cái hoặc Nhật ký- Sổ Cái...) và
các sổ, thẻ kế toán chi tiết liên quan.
(2) Cuối tháng (hoặc bất kỳ vào thời điểm cần thiết
nào), kế toán thực hiện các thao tác khoá sổ (cộng sổ) và lập báo cáo tài
chính. Việc đối chiếu giữa số liệu tổng hợp với số liệu chi tiết được thực hiện
tự động và luôn đảm bảo chính xác, trung thực theo thông tin đã được nhập trong
kỳ. Người làm kế toán có thể kiểm tra, đối chiếu số liệu giữa sổ kế toán với
báo cáo tài chính sau khi đã in ra giấy.
Thực hiện các thao tác để in báo cáo tài chính theo
quy định.
Cuối tháng, cuối năm sổ kế toán tổng hợp và sổ kế
toán chi tiết được in ra giấy, đóng thành quyển và thực hiện các thủ tục pháp
lý theo quy định về sổ kế toán ghi bằng tay.
Biểu số 05
TRÌNH TỰ GHI SỔ KẾ TOÁN
THEO HÌNH THỨC KẾ TOÁN TRÊN MÁY VI TÍNH
Ghi chú:
Việc cung cấp thông tin minh bạch và hữu ích cho các đối tượng sử dụng
thông tin là cần thiết trong nền kinh tế thị trường nên việc xem xét thông tin
kế toán ngày càng được ưu tiên, đòi hỏi doanh nghiệp phải thực hiện tốt hơn hệ
thống thông tin nội bộ.
Công tác kiểm tra kế toán trong doanh nghiệp được tiến hành theo những
nội dung sau:
-
Kiểm tra việc lập và luân chuyển chứng từ kế
toán, kiểm tra việc sử dụng tài khoản và ghi chép trên các sổ kế toán đảm bảo
đúng quy định của luật kế toán, chế độ kế toán, chính sách quản lý tài chính.
-
Kiểm tra hiện vật thông qua quản lý tài sản, đảm
bảo cho số liệu kế toán cung cấp phù hợp với thực trạng tài sản hiện có tại
doanh nghiệp.
-
Đối chiếu số liệu giữa các sổ kế toán (sổ kế toán
tổng hợp và sổ chi tiết, sổ kế toán của các bộ phận kế toán có liên quan), đối
chiếu số liệu giữa các sổ kế toán với số liệu của các bộ phận kế toán có liên
quan trong hệ thống quản lý của doanh nghiệp, đối chiếu giữa chứng từ kế toán
với sổ kế toán và ngược lại nếu cần...nhằm đảm bảo số liệu kế toán được ghi
chép, phản ánh chính xác, đầy đủ, đúng theo quy định chung.
-
Đối chiếu, nhờ xác nhận giữa số liệu của kế toán
với số liệu của các đơn vị có liên quan như ngân hàng, khách hàng, nhà cung
cấp...
-
Kiểm tra việc thực hiện tổ chức công tác kế toán
trong doanh nghiệp, đánh giá việc thực hiện trách nhiệm và sự phối hợp công
việc giữa các thành viên trong bộ máy kế toán của doanh nghiệp.
1. Mục đích của báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính dùng để cung cấp thông tin về tình hình tài chính,
tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu
quản lý của chủ doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước và nhu cầu hữu ích của những
người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế. Báo cáo tài chính phải
cung cấp những thông tin của một doanh nghiệp về:
a/ Tài sản;
b/ Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu;
c/ Doanh thu, thu nhập khác, chi phí kinh doanh và chi phí khác;
d/ Lãi, lỗ và phân chia kết quả kinh doanh;
đ/ Thuế và các khoản nộp Nhà nước;
e/ Tài sản khác có liên quan đến đơn vị kế toán;
g/ Các luồng tiền.
Ngoài các thông tin này, doanh nghiệp còn phải cung cấp các thông tin
khác trong “Bản thuyết minh báo cáo tài chính” nhằm giải trình thêm về các chỉ
tiêu đã phản ánh trên các báo cáo tài chính tổng hợp và các chính sách kế toán
đã áp dụng để ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, lập và trình bày báo
cáo tài chính.
2- Đối tượng áp
dụng
Hệ thống báo cáo tài chính năm được áp dụng cho tất cả
các loại hình doanh nghiệp thuộc các ngành và các thành phần kinh tế. Riêng các
doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn tuân thủ các quy định chung tại phần này và những
qui định, hướng dẫn cụ thể phù hợp với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chế độ kế
toán doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Việc lập và trình bày báo cáo tài chính của các ngân hàng và tổ chức
tài chính tương tự được quy định bổ sung ở Chuẩn mực kế toán số 22 "Trình
bày bổ sung báo cáo tài chính của các ngân hàng và tổ chức tài chính tương
tự" và các văn bản quy định cụ thể.
Việc lập và trình bày báo cáo tài chính của các doanh nghiệp ngành đặc
thù tuân thủ theo quy định tại chế độ kế toán do Bộ Tài chính ban hành hoặc
chấp thuận cho ngành ban hành.
Công ty mẹ và tập đoàn lập báo cáo tài chính hợp nhất phải tuân thủ quy
định tại chuẩn mực kế toán “Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán khoản đầu tư
vào công ty con”.
Đơn vị kế toán cấp trên có các đơn vị kế toán trực thuộc hoặc Tổng công
ty Nhà nước hoạt động theo mô hình không có công ty con phải lập báo cáo tài
chính tổng hợp theo quy định tại Thông tư hướng dẫn kế toán thực hiện Chuẩn mực
kế toán số 25“Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán khoản đầu tư vào công ty
con”.
Hệ thống báo cáo tài chính giữa niên độ (Báo cáo tài
chính quý) được áp dụng cho các DNNN, các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường
chứng khoán và các doanh nghiệp khác khi tự nguyện lập báo cáo tài chính giữa
niên độ.
3- Hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp
Hệ thống báo cáo tài chính gồm báo cáo tài chính năm và
báo cáo tài chính giữa niên độ.
3.1. Báo cáo
tài chính năm
Báo cáo tài chính năm, gồm:
- Bảng cân đối kế toán
|
Mẫu số B 01 - DN
|
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
|
Mẫu số B 02 - DN
|
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
|
Mẫu số B 03 - DN
|
- Bản thuyết minh báo cáo tài chính
|
Mẫu số B 09 - DN
|
3.2. Báo cáo
tài chính giữa niên độ
Báo cáo tài chính giữa niên độ gồm báo cáo tài chính giữa
niên độ dạng đầy đủ và báo cáo tài chính giữa niên độ dạng tóm lược.
(1) Báo cáo tài chính giữa niên độ dạng đầy đủ, gồm:
- Bảng
cân đối kế toán giữa niên độ (dạng đầy đủ):
|
Mẫu
số B 01a – DN;
|
-
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giữa niên độ
(dạng
đầy đủ):
|
Mẫu
số B 02a – DN;
|
-
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ giữa niên độ (dạng đầy đủ):
|
Mẫu
số B 03a – DN;
|
- Bản
thuyết minh báo cáo tài chính chọn lọc:
|
Mẫu
số B 09a – DN.
|
(2)
Báo cáo tài chính giữa niên độ dạng tóm lược, gồm:
- Bảng
cân đối kế toán giữa niên độ (dạng tóm lược):
|
Mẫu
số B 01b – DN;
|
-
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giữa niên độ
(dạng
tóm lược):
|
Mẫu
số B 02b – DN;
|
-
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ giữa niên độ (dạng tóm lược):
|
Mẫu
số B 03b – DN;
|
- Bản
thuyết minh báo cáo tài chính chọn lọc:
|
Mẫu
số B 09a – DN.
|
4- Trách nhiệm lập và trình bày báo cáo tài chính
(1) Tất cả các doanh nghiệp thuộc các ngành, các thành phần
kinh tế đều phải lập và trình bày báo cáo tài chính năm.
Các công ty, Tổng công ty có các đơn vị kế toán trực thuộc,
ngoài việc phải lập báo cáo tài chính năm của công ty, Tổng công ty còn phải lập
báo cáo tài chính tổng hợp hoặc báo cáo tài chính hợp nhất vào cuối kỳ kế toán
năm dựa trên báo cáo tài chính của các đơn vị kế toán trực thuộc công ty, Tổng
công ty.
(2) Đối với DNNN, các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường
chứng khoán còn phải lập báo cáo tài chính giữa niên độ dạng đầy đủ.
Các doanh nghiệp khác nếu tự nguyện lập báo cáo tài chính
giữa niên độ thì được lựa chọn dạng đầy đủ hoặc tóm lược.
Đối với Tổng công ty Nhà nước và DNNN
có các đơn vị kế toán trực thuộc còn phải lập báo cáo tài chính tổng hợp hoặc
báo cáo tài chính hợp nhất giữa niên độ (*).
(3) Công ty mẹ và tập đoàn phải lập
báo cáo tài chính hợp nhất giữa niên độ (*) và báo cáo tài chính hợp nhất vào
cuối kỳ kế toán năm theo quy định tại Nghị định số 129/2004/NĐ-CP ngày
31/5/2004 của Chính phủ. Ngoài ra còn phải lập báo cáo tài chính hợp nhất sau
khi hợp nhất kinh doanh theo quy định của Chuẩn mực kế toán số 11 “Hợp nhất
kinh doanh”.
(*) Việc lập báo cáo tài chính hợp
nhất giữa niên độ được thực hiện từ năm 2008)
5- Yêu cầu lập
và trình bày báo cáo tài chính
Việc lập và trình bày báo cáo tài chính phải tuân thủ các
yêu cầu qui định tại Chuẩn mực kế toán số 21 - Trình bày báo cáo tài chính, gồm:
- Trung thực và hợp lý;
- Lựa chọn và áp dụng các chính sách
kế toán phù hợp với qui định của từng chuẩn mực kế toán nhằm đảm bảo cung cấp
thông tin thích hợp với nhu cầu ra quyết định kinh tế của người sử dụng và cung
cấp được các thông tin đáng tin cậy, khi:
+ Trình bày trung thực, hợp lý tình hình tài chính, tình
hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp;
+ Phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dịch và sự
kiện không chỉ đơn thuần phản ánh hình thức hợp pháp của chúng;
+ Trình bày khách quan, không thiên vị;
+ Tuân thủ nguyên tắc thận trọng;
+ Trình bày đầy đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu.
Việc lập báo cáo tài chính phải căn cứ vào số liệu sau
khi khoá sổ kế toán. Báo cáo tài chính phải được lập đúng nội dung, phương pháp
và trình bày nhất quán giữa các kỳ kế toán. Báo cáo tài chính phải được người lập,
kế toán trưởng và người đại diện theo pháp luật của đơn vị kế toán ký, đóng dấu
của đơn vị.
6- Nguyên tắc
lập và trình bày báo cáo tài chính
Việc lập và trình bày báo cáo tài chính phải tuân thủ sáu
(06) nguyên tắc quy định tại Chuẩn mực kế toán số 21 – “Trình bày báo cáo tài
chính”: Hoạt động liên tục, cơ sở dồn tích, nhất quán, trọng yếu, tập hợp, bù
trừ và có thể so sánh.
Việc thuyết minh báo cáo tài chính phải căn cứ vào yêu cầu
trình bày thông tin quy định trong các chuẩn mực kế toán. Các thông tin trọng yếu
phải được giải trình để giúp người đọc hiểu đúng thực trạng tình hình tài chính
của doanh nghiệp.
7- Kỳ lập báo
cáo tài chính
7.1 Kỳ lập
báo cáo tài chính năm
Các doanh nghiệp phải lập báo cáo tài chính theo kỳ kế
toán năm là năm dương lịch hoặc kỳ kế toán năm là 12 tháng tròn sau khi thông
báo cho cơ quan thuế. Trường hợp đặc biệt, doanh nghiệp được phép thay đổi ngày
kết thúc kỳ kế toán năm dẫn đến việc lập báo cáo tài chính cho một kỳ kế toán
năm đầu tiên hay kỳ kế toán năm cuối cùng có thể ngắn hơn hoặc dài hơn 12 tháng
nhưng không được vượt quá 15 tháng.
7.2 Kỳ lập
báo cáo tài chính giữa niên độ
Kỳ lập báo cáo tài chính giữa niên độ là mỗi quý của năm
tài chính (không bao gồm quý IV).
7.3 Kỳ lập
báo cáo tài chính khác
Các doanh nghiệp có thể lập báo cáo tài chính theo kỳ kế
toán khác (như tuần, tháng, 6 tháng, 9 tháng...) theo yêu cầu của pháp luật, của
công ty mẹ hoặc của chủ sở hữu.
Đơn vị kế toán bị chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển
đổi hình thức sở hữu, giải thể, chấm dứt hoạt động, phá sản phải lập báo cáo
tài chính tại thời điểm chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức sở
hữu, giải thể, chấm dứt hoạt động, phá sản.
8. Thời hạn nộp báo cáo tài chính
8.1. Đối với
doanh nghiệp nhà nước
a) Thời hạn nộp báo cáo tài chính quý:
- Đơn vị kế toán phải nộp báo cáo tài chính quý chậm nhất
là 20 ngày, kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán quý; đối với Tổng công ty nhà nước
chậm nhất là 45 ngày;
- Đơn vị kế toán trực thuộc Tổng công ty nhà nước nộp báo
cáo tài chính quý cho Tổng công ty theo thời hạn do Tổng công ty quy định.
b) Thời hạn nộp báo cáo tài chính năm:
- Đơn vị kế toán phải nộp báo cáo tài chính năm chậm nhất
là 30 ngày, kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm; đối với Tổng công ty nhà nước
chậm nhất là 90 ngày;
- Đơn vị kế toán trực thuộc Tổng công ty nhà nước nộp báo
cáo tài chính năm cho Tổng công ty theo thời hạn do Tổng công ty quy định.
8.2. Đối với
các loại doanh nghiệp khác
a) Đơn vị kế toán là doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp
danh phải nộp báo cáo tài chính năm chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày kết thúc kỳ
kế toán năm; đối với các đơn vị kế toán khác, thời hạn nộp báo cáo tài chính
năm chậm nhất là 90 ngày;
b) Đơn vị kế toán trực thuộc nộp báo cáo tài chính năm
cho đơn vị kế toán cấp trên theo thời hạn do đơn vị kế toán cấp trên quy định.
9. Nơi nhận báo cáo tài chính
CÁC LOẠI
DOANH NGHIỆP
(4)
|
Kỳ lập
báo
cáo
|
Nơi nhận báo cáo
|
||||
Cơ quan tài chính
|
Cơ quan Thuế
(2)
|
Cơ quan Thống kê
|
DN
cấp trên
(3)
|
Cơ quan đăng ký kinh doanh
|
||
1.
Doanh nghiệp Nhà nước
|
Quý,
Năm
|
x
(1)
|
x
|
x
|
x
|
x
|
2.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
|
Năm
|
x
|
x
|
x
|
x
|
x
|
3. Các loại doanh nghiệp khác
|
Năm
|
x
|
x
|
x
|
x
|
|
(1) Đối với các doanh nghiệp Nhà nước đóng trên địa bàn tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương phải lập và nộp báo cáo tài chính cho Sở Tài
chính tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Đối với doanh nghiệp Nhà nước
Trung ương còn phải nộp báo cáo tài chính cho Bộ Tài chính (Cục Tài chính doanh
nghiệp).
- Đối với các loại doanh nghiệp Nhà nước như: Ngân hàng
thương mại, công ty xổ số kiến thiết, tổ chức tín dụng, doanh nghiệp bảo hiểm,
công ty kinh doanh chứng khoán phải nộp báo cáo tài chính cho Bộ Tài chính (Vụ
Tài chính ngân hàng). Riêng công ty kinh doanh chứng khoán còn phải nộp báo cáo
tài chính cho Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước.
(2) Các doanh nghiệp phải gửi báo cáo tài chính cho cơ
quan thuế trực tiếp quản lý thuế tại địa phương. Đối với các Tổng công ty Nhà
nước còn phải nộp báo cáo tài chính cho Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế).
(3) DNNN có đơn vị kế toán cấp trên phải nộp báo cáo tài
chính cho đơn vị kế toán cấp trên. Đối với doanh nghiệp khác có đơn vị kế toán
cấp trên phải nộp báo cáo tài chính cho đơn vị cấp trên theo quy định của đơn vị
kế toán cấp trên.
(4) Đối với các doanh nghiệp mà pháp luật quy định phải
kiểm toán báo cáo tài chính thì phải kiểm toán trước khi nộp báo cáo tài chính
theo quy định. Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp đã thực hiện kiểm toán phải
đính kèm báo cáo kiểm toán vào báo cáo tài chính khi nộp cho các cơ quan quản
lý Nhà nước và doanh nghiệp cấp trên.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét